Mác
Chapter 14
Vietnamese Bible (1923 t…

Read in

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)
vs Baibala Hemolele (…

Compare with

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Stop comparing
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Hai ngày trước lễ Vượt Qua và lễ ăn bánh không men, các thầy tế lễ cả cùng các thầy thông giáo tìm mưu đặng bắt Đức Chúa Jêsus và giết đi.
1A HALA ae la na la elua, alaila ka ahaaina o ka moliaola, a me ka berena hu ole; imi iho la ka poe kahuna nui a me ka poe kakauolelo e hopu ia ia me ka maalea, a e pepehi.
2Vì họ nói rằng: Chẳng nên làm việc nầy trong này lễ, sợ sanh sự xôn xao trong dân chúng.
2I ae la lakou, Aole i ka la ahaaina, o haunaele auanei na kanaka.
3Đức Chúa Jêsus ở tại làng Bê-tha-ni, trong nhà Si-môn là kẻ phung. Ngài đang ngồi bàn ăn, có một người đàn bà vào, đem một cái bình bằng ngọc, đựng đầy dầu cam tòng thật rất quí giá, đập bể ra mà đổ dầu thơm trên đầu Đức Chúa Jêsus.
3A aia ia i Betania, iloko o ka hale o Simona ka lepero, e moe ana e ai ilaila, hele mai la kekahi wahine me ka ipu alabata, he mea poni koloko, he aila ala, he mea kumukuai nui; a wehe ia i ka ipu, a ninini iho la ia iluna iho o kona poo.
4Có vài người nổi giận nói cùng nhau rằng: Sao xài phí dầu thơm ấy như vậy?
4Huhu ae la kekahi poe iloko o lakou iho, i ae la, No ke aha la i hoomaunaunaia'i keia aila?
5Vì có thể bán dầu đó được hơn ba trăm đơ-ni-ê, mà bố thí cho kẻ khó khăn. Vậy, họ oán trách người.
5Ina paha i kuaiia'ku ia, ekolu haneri denari a keu aku paha i loaa mai, i mea haawi aku no ka poe ilihune. Ohumu iho la lakou i ua wahine la.
6Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để mặc người; sao các ngươi làm rầy người mà chi? Người đã làm một việc tốt cho ta.
6I mai la Iesu, Uoki, no ke aha oukou e hoino aku nei ia ia? He mea maikai kana i hana mai nei ia'u.
7Vì các ngươi hằng có kẻ khó khăn ở cùng mình, khi nào muốn làm phước cho họ cũng được; nhưng các ngươi chẳng có ta ở luôn với đâu.
7Ua mau loa ka poe ilihune me oukou, a e hiki no ia oukou ke hana maikai aku ia lakou i na manawa a pau a oukou e makemake ai; aka, owau, aole au e mau loa ana me oukou.
8Người đã làm điều mình có thể làm được, đã xức xác cho ta trước để chôn.
8O ka mea hiki ia ia nei, ua hana io mai ia; a ua hele mua mai e poni i ko'u kino, no ko'u kanuia.
9Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong khắp cả thế gian, hễ nơi nào Tin Lành nầy được giảng ra, việc người đã làm cũng sẽ được nhắc lại để nhớ đến người.
9He oiaio ka'u e olelo aku nei ia oukou, Ma na wahi a pau loa ma ke ao nei e haiia'ku ai keia euanelio, e hai pu ia'ku no hoi ka mea ana i hana mai ai, i mea e hoomanaoia'i oia.
10Bấy giờ, Giu-đa ỗch-ca-ri-ốt là một trong mười hai sứ đồ, đến nơi các thầy tế lễ cả, để nộp Đức Chúa Jêsus cho.
10Ilaila ka hele ana o Iuda Isekariota, kekahi o ka poe umikumamalua, i ka poe kahuna nui, e kumakaia ia ia na lakou.
11họ vui lòng mà nghe và hứa cho nó tiền bạc; rồi Giu-đa tìm dịp tiện để nộp Ngài.
11A lohe ae la lakou, olioli iho la, a ae mai la lakou i ka haawi ia ia i kala. Imi iho la ia i kahi e hiki pono ai ke kumakaia ia ia.
12Ngày thứ nhất về lễ ăn bánh không men, là ngày giết chiên con làm lễ Vượt Qua, các môn đồ thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Thầy muốn chúng tôi đi dọn cho thầy ăn lễ Vượt Qua tại đâu?
12A i ka la mua o ka ahaaina berena ha ole, i ka wa e kalua'i i ka moliaola, ninau aku la kana poe haumana ia ia, Auhea la kau wahi makemake e hele ai makou e hoomakaukau, i ai oe i ka moliaola?
13Ngài sai hai môn đồ đi, và dặn rằng: Hãy vào thành, sẽ gặp một người xách vò nước; cứ theo sau,
13A hoouna ae la ia i na haumana ana elua, i ae la ia laua, E hele aku olua i ke kulanakauhale, alaila olua e halawai ai me kekahi kanaka e hali ana i ke kiaha wai, e hahai aku olua ia ia.
14hễ người vào nhà nào, các ngươi sẽ nói cùng chủ nhà ấy rằng: Thầy phán: Cái phòng ta sẽ dùng ăn lễ Vượt Qua với môn đồ ta ở đâu?
14A i kana wahi e komo aku ai, e olelo olua i ka mea hale, E, ke olelo mai nei ke Kumu, Auhea la ke keena hookipa, kahi e ai pu ai au i ka moliaola me ka'u poe haumana?
15Chính kẻ đó sẽ chỉ cho các ngươi một cái phòng lớn trên lầu có đồ đạc sẵn sàng, hãy dọn tại đó cho chúng ta.
15A e hoike mai no kela ia olua i kekahi keena nui maluna, ua makaukau koloko; malaila olua e hoomakaukau ai no kakou.
16Vậy, hai môn đồ đi ra mà vào thành, gặp mọi điều như lời Ngài đã phán, rồi dọn lễ Vượt Qua.
16Hele aku la na haumana, a hiki aku la i ke kulanakauhale, loaa ia laua e like me kana mea i olelo mai ai ia laua: a hoomakaukau laua i ka moliaola.
17Buổi chiều, Ngài đến với mười hai sứ đồ.
17A i ke ahiahi hele mai la ia me ka poe umikumamalua.
18Đang ngồi ăn, Đức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong vòng các ngươi có một kẻ ngồi ăn cùng ta, sẽ phản ta.
18A i ko lakou moe ana i ka ahaaina, olelo mai la Iesu, He oiaio ka'u e olelo aku nei ia oukou, E kumakaiaia auanei au e kekahi o oukou, o ka mea e ai pu ana me au.
19Các môn đồ bèn buồn rầu lắm, cứ lần lượt mà thưa cùng Ngài rằng: Có phải tôi chăng?
19Kaumaha iho la lakou, a olelo pakahi aku la ia ia, Owau anei? a o kekahi, Owau anei?
20Ngài đáp rằng: Aáy là một trong mười hai người, là người thò tay vào mâm cùng ta.
20Olelo mai la ia, i mai la ia lakou, O kekahi o ka poe umikumamalua e miki pu ana kona lima me au i ke pa, oia no ia.
21Vì Con người đi, y như lời đã chép về Ngài; song khốn cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn.
21Ke hele aku nei no ke Keiki a ke kanaka, e like me ka mea i palapalaia mai ai nona: aka, auwe ke kanaka nana e kumakaia i ke Keiki a ke kanaka! e aho no ia ina aole i hanauia mai ia.
22Khi đang ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn, đoạn bẻ ra trao cho các môn đồ, mà phán rằng: Hãy lấy, nầy là thân thể ta.
22A i ka lakou ai ana, lalau ae la Iesu i ka berena, hoalohaloha aku la, wawahi iho la, a haawi mai la ia lakou, i mai la, E lawe, e ai; o ko'u kino keia.
23Ngài lại cầm chén, tạ ơn, rồi trao cho các môn đồ, và ai nấy đều uống.
23Alaila, lalau iho la ia i ke kiaha a hoalohaloha aku ia, alaila, haawi mai la ia lakou; a inu iho la lakou a pau i ko loko.
24Ngài phán rằng: Nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đổ ra cho nhiều người.
24I mai la oia ia lakou, O ko'u koko keia no ke kauoha hou, ua hookaheia no na kanaka he nui loa.
25Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không uống trái nho nầy nữa, cho đến ngày ta sẽ uống trái nho mới trong nước Đức Chúa Trời.
25He oiaio ka'u e hai aku nei ia oukou, aole au e inu hou aku i ko ka hua o ke kumu waina, a hiki aku i ka la o inu ai au i ka mea hou iloko o ke aupuni o ke Akua.
26Khi đã hát thơ thánh rồi, Chúa và môn đồ đi ra đặng lên núi ô-li-ve.
26Himeni ae la lakou, alaila hele aku la iwaho ma ka mauna o Oliveta.
27Đức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ rằng: Hết thảy các ngươi sẽ gặp dịp vấp phạm; vì có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì bầy chiên sẽ tan lạc.
27I mai la Iesu ia lakou, I neia po e hihia auanei oukou a pau no'u; no ka mea, ua palapalaia, E pepehi ana au i ke kahuhipa, a e puehu wale aku no na hipa.
28Nhưng khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi.
28Aka, mahope iho o ko'u ala hou ana mai, e hele aku au mamua o oukou i Galilaia.
29Phi-e-rơ thưa rằng: Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, nhưng tôi chẳng hề làm vậy.
29I aku la o Petero ia ia, Ina e hihia lakou a pau, aole loa owau.
30Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay, cũng trong đêm nay, trước khi gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba lần.
30I mai la Iesu ia ia, He oiaio ka'u e hai aku nei ia oe, i keia la, a i keia po no, aole o hiki ke kani ana o ka moa kualua, ekolu on hoole e ana mai ia'u.
31Nhưng Phi-e-rơ lại thưa cách quả quyết hơn rằng: Dầu tôi phải chết cùng thầy, tôi cũng chẳng chối thầy đâu. Hết thảy các môn đồ khác cũng đều nói như vậy.
31Alaila, olelo ikaika aku la o Petero, Aole loa wau e hoole aku ia oe, ke make pu au me oe; a pela lakou a pau i olelo aku ai.
32Kế đó, đi đến một nơi kia, gọi là Ghết-sê-ma-nê, Đức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ rằng: Các ngươi hãy ngồi đây, đợi ta cầu nguyện.
32Alaila, hele mai la lakou i kahi i kapaia o Getesemane; i mai la ia i kana poe haumana, E noho oukou maanei, i kuu wa e pule ana.
33Ngài bèn đem Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đi, thì Ngài khởi sự kinh hãi và sầu não.
33A kai aku la oia ia Petero, a me Iakobo, a me Ioane, ilaila ka hoomaka ana o kona kaumaha a me ka luuluu loa.
34Ngài phán cùng ba người rằng: Linh-hồn ta buồn rầu lắm cho đến chết; các ngươi hãy ở đây, và tỉnh thức.
34I mai la oia ia lakou, Ua kaumaha loa kuu uhane, me he mea make la. E kali oukou maanei, a e makaala no hoi.
35Rồi Ngài đi một đỗi xa hơn, sấp mình xuống đất mà cầu nguyện rằng: nếu có thể được, xin giờ nầy qua khỏi mình.
35Hele iki aku la ia a hina iho la ma ka lepo, a pule aku la, ina e hiki ia mea, e laweia'ku ia hora.
36Ngài rằng: A-ba lạy Cha, mọi việc Cha làm được cả; xin Cha cất chén nầy khỏi con; nhưng không theo điều con muốn, mà theo điều Cha muốn.
36I aku la ia, E Aba, e ka Makua, ua hiki na mea a pau loa ia oe, e lawe aku oe i keia kiaha o'u; aka hoi, aole o ko'u makemake e hanaia, aia o kou.
37Rồi Ngài trở lại, thấy ba người ngủ; bèn phán cùng Phi-e-rơ rằng: Si-môn, ngủ ư! Ngươi không thức được một giờ sao?
37Hoi mai la ia, loaa iho la lakou ia ia e hiamoe ana; i mai la oia ia Petero, E Simona, ke hiamoe nei anei oe? Aole anei e hiki ia oe ke makaala i hookahi hora?
38Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để các ngươi khỏi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối.
38E makaala oukou, e pule, o hoowalewaleia mai oukou. Ua makemake no ka naau, aka, o ke kino, ua nawaliwali ia.
39Ngài lại đi lần nữa, và cầu nguyện, y như lời trước.
39Hele hou aku la ia, a pule aku la, ma ia olelo hookahi ana no.
40Ngài trở lại, thấy môn đồ còn ngủ, vì con mắt đã đừ quá; và không biết trả lời cùng Ngài thể nào.
40A hoi mai la ia, loaa hou no lakou e hiamoe ana, (no ka mea, ua maloeloe ko lakou maka,) aole nae lakou i ike i ka mea e olelo aku ai ia ia.
41Ngài trở lại lần thứ ba, phán cùng môn đồ rằng: Bây giờ các ngươi ngủ và nghỉ ngơi ư! thôi, giờ đã tới rồi; nầy, Con người hầu bị nộp trong tay kẻ có tội.
41Hele hou mai la oia ia lakou, o ke kolu ia o kona hele ana mai, i mai la ia lakou, E hiamoe aku oukou, e hoomaha. Ua pau, ua hiki mai nei ka hora; aia hoi, ua kumakaiaia ke Keiki a ke kanaka i ka lima o ka poe hewa.
42Hãy chờ dậy, đi hè; kìa, đứa phản ta đã đến gần.
42E ala, e haele kakou; aia hoi, ke kokoke mai nei ka mea nana wau e kumakaia.
43Ngài đang còn phán, tức thì Giu-đa, là một trong mười hai sứ đồ thoạt đến với một toán đông cầm gươm và gậy, bởi các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, và các trưởng lão phái đến.
43I kana olelo ana, hele koke mai la o Iuda, kekahi o ka poe umikumamalua, a me ia no na kanaka he nui loa, me na pabikaua, a me na newa, na ka poe kahuna nui mai, a me ka poe kakauolelo, a me ka poe lunakahiko.
44Vả, đứa phản Ngài đã cho chúng dấu hiệu nầy: Hễ tôi hôn ai, ấy là người đó; hãy bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận.
44A o ka mea nana ia i kumakaia, ua haawi ae ia i hoailona na lakou, i ae la, O ka mea a'u e honi aku ai, oia no ia, e hopu aku ia ia, a e alakai paa aku.
45Vậy, khi Giu-đa đến rồi, liền lại gần Ngài mà nói rằng: Lạy thầy! Rồi nó hôn Ngài.
45A hiki mai la ia, alaila hele koke aku la ia io na la, i aku la, E Rabi, e Rabi; a honi aku la ia ia.
46Chúng bèn tra tay bắt Đức Chúa Jêsus.
46Lalau aku la ko lakou lima ia ia, hopu iho la.
47Có một người trong những kẻ ở đó rút gươm ra, đánh một đứa đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, chém đứt tai đi.
47A o kekahi o lakou e ku ana malaila, unuhi ae la ia i ka pahikaua, hahau aku la i kekahi kauwa o ke kahuna nui, a oki ae la i kona pepeiao.
48Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán cùng chúng rằng: Các ngươi đem gươm và gậy đến bắt ta như ta là kẻ trộm cướp.
48Olelo mai la Iesu, i mai ia lakou, Ua hele mai nei anei oukou iwaho nei, me na pahikana, a me na newa e hopu mai ia'u, me he powa la?
49Ta hằng ngày ở giữa các ngươi, giảng dạy trong đền thờ, mà các ngươi không bắt ta; nhưng điều ấy xảy đến, để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm.
49Me oukou no au i noho ai iloko o ka luakini, e ao ana aku i kela la i keia la, aole oukou i hopu mai ia'u; aka, e hookoia mai no nae ka palapala hemolele.
50Bấy giờ, mọi người đều bỏ Ngài và trốn đi cả.
50Haalele aku la kana poe haumana a pau ia ia, holo aku la.
51Có một người trẻ tuổi kia theo Ngài, chỉ có cái khăn bằng gai trùm mình; chúng bắt người.
51Hahai aku la kekahi kanaka opiopio ia ia, e aahu ana i ke kapa olona ma ka ili, lalau iho la ka poe koa ia ia.
52Nhưng người bỏ khăn lại, ở truồng chạy trốn khỏi tay chúng.
52Haalele iho la ia i ke kapa olona, a holo kohana aku la, mai o lakou aku.
53Chúng điệu Đức Chúa Jêsus đến nơi thầy cả thượng phẩm, có hết thảy thầy tế lễ cả, trưởng lão, và thầy thông giáo nhóm họp tại đó.
53Alakai aku la lakou ia Iesu i ke kahuna nui; ua akoakoa pu mai no me ia ka poe kahuna nui a pau, a me ka poe lunakahiko, a me ka poe kakauolelo.
54Phi-e-rơ theo sau Ngài xa xa, cho đến nơi sân trong của thầy cả thượng phẩm; rồi ngồi với quân lính gần đống lửa mà sưởi.
54Hahai mamao aku la o Petero ia ia, a hiki i ka hale o ke kahuna nui; a noho pu ia me ka poe kauwa, e lalana ana ia ia iho i ke ahi.
55Vả, các thầy tế lễ cả, cùng cả tòa công luận đều tìm chứng gì để nghịch cùng Đức Chúa Jêsus đặng giết Ngài, song không kiếm được chi hết.
55Imi iho la ka poe kahuna nui, a me ka ahalunakanawai, i mea hoike no Iesu e make ai, aole nae i loaa.
56Vì có nhiều kẻ làm chứng dối nghịch cùng Ngài; nhưng lời họ khai chẳng hiệp nhau.
56No ka mea, he nui no ka poe hoike wahahee mai nona, aole hoi i ku like ko lakou hoike ana.
57Bấy giờ có mấy người đứng lên làm chứng dối nghịch cùng Ngài rằng:
57Ku ae la kekahi mau mea, hoike wahahee ae la, i ae,
58Chúng tôi có nghe người nói: Ta sẽ phá đền thờ nầy bởi tay người ta cất lên, khỏi ba ngày, ta sẽ cất một đền thờ khác không phải bởi tay người ta cất.
58Ua lohe no maua i kana olelo ana mai, E wawahi ana au i keia luakini i hanaia e ka lima, a i na la ekolu e hana hou no wau i kekahi i hana ole ia e ka lima.
59Song về điều nầy, lời chứng của họ cũng chẳng hiệp nhau nữa.
59Aole nae i ku like ko laua hoike ana.
60Khi ấy, thầy cả thượng phẩm đứng dậy giữa hội đồng, tra hỏi Đức Chúa Jêsus mà rằng: Ngươi chẳng đối đáp chi hết về những điều các kẻ nầy cáo ngươi sao?
60Ku ae la iluna ke kahuna nui iwaenakonu o lakou, ninau aku la ia Iesu, i aku la, Aole anei oe e olelo mai? Heaha la kela mea a laua nei i hoike ai nou?
61Nhưng Đức Chúa Jêsus làm thinh, không trả lời chi hết. Thầy cả thượng phẩm lại hỏi: Aáy chính ngươi là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời đáng ngợi khen phải không?
61Noho malie iho la ia, aole i olelo mai. Ninau hou aku la ke kahuna nui ia ia, i aku la, O oe no anei ka Mesia, ke Keiki a ka mea i hoomaikaiia?
62Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta chính phải đó; các ngươi sẽ thấy Con người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự giữa đám mây trên trời mà đến.
62Olelo mai la Iesu, Owau no ia; a e ike mai auanei oukou i ke Keiki a ke kanaka e noho ana ma ka lima akau o ka Mana loa, a e hele mai ana ma na ao o ka lani.
63Bấy giờ thầy cả thượng phẩm xé áo mình ra mà rằng: Chúng ta có cần kiếm chứng cớ khác nữa làm chi?
63Alaila haehae ae la ke kahuna nui i kona kapa, i ae la, No ke aha la kakou e makemake hou ai i mea hoike?
64Các ngươi có nghe lời lộng ngôn chăng? Các ngươi nghĩ thế nào: Ai nấy đều đoán Ngài đáng chết.
64Ua lohe ae nei oukou i kana olelo hoino ana. Pehea la ko oukou manao? Hoohewa mai la lakou a pau ia ia, he hewa kupono i ka make.
65Có kẻ nhổ trên Ngài, đậy mặt Ngài lại, đấm Ngài, và nói với Ngài rằng: Hãy nói tiên tri đi! Các lính canh lấy gậy đánh Ngài.
65Kuhakuha aku la kekahi poe ia ia, a uhi aku la kekahi poe i kona maka, kuikui aku la ia ia, me ka i aku, E koho mai. A kuikui aku la ka poe ilamuku ia ia, me ko lakou mau poho lima.
66Phi-e-rơ đang ở dưới nơi sân, có một đầy tớ gái của thầy cả thượng phẩm đến,
66I ko Petero noho ana malalo, ma ka pa, hele mai la kekahi kaikamahine o ke kahuna nui.
67thấy Phi-e-rơ đang sưởi, ngó người mà rằng: ngươi trước cũng ở với Jêsus Na-xa-rét!
67A ike mai la kela ia Petero e lalana ana ia ia iho, nana ae la oia ia ia, i ae la, O oe no kekahi pu me Iesu no Nazareta.
68Nhưng người chối rằng: Ta không biết, ta không hiểu ngươi nói chi. Đoạn, người bước ra tiền đường, thì gà gáy.
68Hoole aku la ia, i aku la, Aole au i ike ia ia, aole hoi i maopopo ia'u ka mea au e olelo mai nei. Alaila, hele aku la ia iwaho ma ka lanai, a ooo mai la ka moa.
69Đầy tớ gái đó thấy người, lại nói cùng những người ở đó rằng: Người nầy cũng là bọn đó.
69Ike hou ae la kekahi kaikamahine ia ia, a olelo ae la ia i ka poe e ku ana malaila, Oia nei no kekahi o lakou.
70Nhưng người lại chối một lần nữa. Khỏi một chặp, những kẻ đứng đó nói cùng Phi-e-rơ rằng: Chắc thật, ngươi cũng là bọn đó, vì ngươi là người Ga-li-lê.
70Hoole hou aku la ia. A mahope iho, i ae la ka poe e ku ana malaila ia Petero, Oiaio, o oe no kekahi o lakou, no ka mea, no Galilaia oe, ke hoike mai nei no hoi kau olelo ana.
71Người bèn rủa mà thề rằng: Ta chẳng hề quen biết với người mà các ngươi nói đó!
71Alaila, hailiili iho la oia, me ka hoohiki, Aole au i ike ia kanaka a oukou e olelo mai nei.
72Tức thì gà gáy lần thứ hai; Phi-e-rơ bèn nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã phán rằng: Trước khi gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba lần. Người tưởng đến thì khóc.
72Ooo hou mai la ka mea. Alaila, manao iho la o Petero i ka Iesu olelo ana mai ia ia, Aole e hiki i ke kani ana o ka moa kualua, a ekolu no ou hoole ana mai ia'u. A i kona noonoo ana, uwe iho la ia.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.