Mác 11
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Khi tới gần thành Giê-ru-sa-lem, bên làng Bê-pha-giê và làng Bê-tha-ni, ngang núi ô-li-ve, Đức Chúa Jêsus sai hai môn đồ đi,
1A KOKOKE mai la lakou i Ierusalema, ua hiki i Betepage, a me Betania ma ka mauna o Oliveta, hoouna mai la ia i na haumana ana elua,
2và phán rằng: Hãy đi đến làng ngay trước mặt các ngươi; vừa khi vào đó, thấy một con lừa con đang buộc, chưa có ai cỡi; hãy mở nó ra, dắt về cho ta.
2I mai la ia laua, E hele olua i kela kulanakauhale mamua o olua; a i ko olua komo ana iloko, e loaa koke no ia olua kekahi hoki keiki, ua nakinakiia, aole i nohoia e ke kanaka; e kala ae olua, a e alakai mai.
3Hoặc có ai hỏi các ngươi rằng: Vì sao làm điều đó? hãy đáp lại: Chúa cần dùng nó, tức thì họ sẽ cho dắt lừa về đây.
3A i olelo mai kekahi ia olua, No ke aha olua e hana'i i keia mea? E olelo aku olua, No ka Haku keia e pono ai; a e hoouna koke mai kela ia ia maanei.
4Hai người đi, thì thấy lừa con đang buộc ở ngoài trước cửa, chỗ đường quẹo, bèn mở ra.
4Hele aku la laua, a loaa iho la ia laua ka hoki keiki, ua nakinakiia ma ka ipuka mawaho, ma na huina alanui. Kala ae la laua ia ia.
5Có mấy kẻ trong những người ở đó hỏi rằng: Các ngươi mở lừa con đó làm chi?
5Olelo mai la kekahi o lakou e ku ana malaila ia laua, No ke aha olua i kala'i i ka hoki keiki?
6Hai người trả lời theo Đức Chúa Jêsus đã dặn; thì họ để cho đi.
6I aku la laua ia lakou, e like me ka Iesu kauoha ana mai; a kuu mai la lakou ia laua.
7Hai người dắt lừa con về cho Đức Chúa Jêsus, lấy áo mình trải trên nó; rồi Ngài cỡi lên.
7Alakai mai la laua i ua hoki keiki la io Iesu la, hohola ae la lakou i ko lakou kapa maluna ona, a noho no o Iesu iluna iho ona.
8Nhiều người trải áo mình trên đường; lại có kẻ rải nhánh cây chặt trong đồng ruộng.
8Nui na mea i haliilii ae i ko lakou kapa ma ke alanui; a o kekahi poe e hoi, ooki ae la lakou i na lala laau, a haliilii iho la ma ke alanui.
9Người đi trước kẻ theo sau đều la lên rằng: Hô-sa-na! Đáng khen ngợi cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!
9Hookani aku la ka poe i hele mamua, a me lakou e hahai ana mahope, i aku la, Hosana; nani wale ka mea i hele mai ma ka inoa o ka Haku.
10Phước cho nước đến, là nước vua Đa-vít, tổ phụ chúng ta! Hô-sa-na ở trên nơi rất cao!
10Pomaikai ke aupuni o ko kakou kupunakane, o Davida, e hele mai ana ma ka inoa o ka Haku: Hosana iluna lilo loa.
11Đức Chúa Jêsus vào thành Giê-ru-sa-lem, đến nơi đền thờ; đoạn, liếc mắt xem mọi sự chung quanh, thì trời đã tối, Ngài bèn ra, đặng đi tới làng Bê-tha-ni với mười hai sứ đồ.
11A komo aku la o Iesu iloko o Ierusalema, a iloko o ka luakini, a nana ao la ia i na mea a pau loa; a ahiahi ao la, hele aku la ia me kana poe haumana i Betania.
12Sáng ngày, khi đã lìa làng Bê-tha-ni rồi, thì Ngài đói.
12A ia la iho, i ko lakou hoi ana ae mai Betania mai, pololi iho la ia.
13Vừa thấy đàng xa một cây vả có lá, Ngài đến đó xem hoặc có chi chăng; song, tới gần rồi, chỉ thấy có lá mà thôi, vì bấy giờ không phải mùa vả.
13Ike aku la ia i kekahi laau fiku, ma kahi mamao aku, he lau maluna; hele ae la ia e imi i ko luna o ka laau; a hiki ae la ia ilaila, loaa ia ia he lau wale no; no ka mea, aole ia o ka manawa fiku.
14Ngài bèn cất tiếng phán cùng cây vả rằng: Chẳng hề có ai ăn trái của mầy nữa! Các môn đồ đều nghe lời ấy.
14Olelo ae la Iesu, i ae la ia ia, Aole loa e ai kekahi kanaka i kau hua, ma neia hope aku; a lohe no kana poe haumana.
15Đoạn, đến thành Giê-ru-sa-lem; Đức Chúa Jêsus vào đền thờ, đuổi những kẻ buôn bán ở đó, lại lật đổ bàn những người đổi bạc, và ghế những kẻ bán bò câu.
15A hiki ae la lakou i Ierusalema; alaila, komo ae la Iesu iloko o ka luakini, hookuke aku la i ka poe kuai lilo aku, a kuai lilo mai iloko o ka luakini, hookahuli ae la i na papa o ka poe kuai kala, a me na noho o ka poe kuai manu nunu.
16Ngài cấm không cho ai được đem đồ gì đi ngang qua đền thờ.
16Aole oia i ae mai, o laweia kekahi mea, mawaena ae o ka luakini.
17Rồi Ngài dạy dỗ chúng mà rằng: há chẳng có lời chép: Nhà ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân hay sao? Nhưng các ngươi đã làm thành cái hang trộm cướp.
17Ao mai la ia, i mai la ia lakou, Aole anei i palapalaia mai, E kapaia ko'u hale e na aina a pau, he hale pule? Ua hoolilo ae nei oukou ia i lua no na powa.
18Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo nghe mấy lời, bèn kiếm cách diệt Ngài; vì họ sợ Ngài, tại cả đoàn dân cảm động sự dạy dỗ của Ngài lắm.
18A lohe ae la ka poe kakauolelo, a me ka poe kahuna nui, imi iho la lakou i mea nona e make ai ia lakou; makau no nae lakou ia ia, no ka mea, ua mnhalo loa na kanaka a pau i kana olelo.
19Đến chiều, Ngài và môn đồ ra khỏi thành.
19A ahiahi ae la, hele aku la ia iwaho o ke kulanakauhale.
20Sáng hôm sau, khi đi ngang qua, thấy cây vả đã khô cho tới rễ;
20A kakahiaka ae, i ko lakou hoi ana mai, ike aku la lakou i ka laau fiku, ua pau i ka maloo, mai ke kumu ae.
21bấy giờ Phi-e-rơ nhớ lại chuyện đã qua, thưa cùng Ngài rằng: Thầy, coi kìa! Cây vả thầy đã rủa nay khô đi rồi.
21Hoomanao iho la o Petero, i ae la ia ia, E ka Haku, e nana, aia ka laau fiku au i hoino ai, ua maloo loa.
22Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán rằng: Hãy có đức tin đến Đức Chúa Trời.
22Olelo mai la Iesu ia lakou, i mai la, E manaoio aku oukou i ko Akua.
23Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai sẽ biểu hòn núi nầy rằng: Phải cất mình lên, và quăng xuống biển, nếu người chẳng nghi ngại trong lòng, nhưng tin chắc lời mình nói sẽ ứng nghiệm, thì điều đó sẽ thành cho.
23No ka mea, he oiaio ka'u olelo aku nei ia oukou, O ka mea e olelo mai i keia mauna, E hoonee aku, a e lele i ke kai, aole hoi e kanalua kona naau, aka, ua manaoio no, e hanaia keia mau mea ana e olelo ai; e loaa io no ia ia ka mea ana e olelo ai.
24Bởi vậy ta nói cùng các ngươi: Mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi.
24No ia mea la, ke olelo aku nei au ia oukou, O na mea a pau a oukou e noi aku ai ma ka oukou pule ana, e manaoio oukou i ka loaa ana, alaila e loaa io aku no ia oukou ia.
25Khi các ngươi đứng cầu nguyện, nếu có sự gì bất bình cùng ai, thì hãy tha thứ, để Cha các ngươi ở trên trời cũng tha lỗi cho các ngươi.
25A i ko oukou ku ana e pule, ina e hoomauhala ana oukou i kekahi, e kala aku oukou ia ia, i kala mai ai hoi ko oukou Makua iloko o ka lani i ko oukou hewa.
26Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi.
26Ina, aole oukou e kala aku, aole no hoi e kala mai ko oukou Makua iloko o ka lani, i ko oukou hewa.
27Chúa và môn đồ trở lại thành Giê-ru-sa-lem. Ngài đang đi dạo trong đền thờ, thì các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, và các trưởng lão tới gần Ngài,
27Hele hou mai la lakou i Ierusalema; a i kona hele ana iloko o ka luakini, hele mai la io na la ka poe kahuna nui, a me ka poe kakauolelo, a me ka poe lunakahiko,
28mà hỏi rằng: Thầy lấy quyền phép nào làm những điều nầy, hoặc ai đã cho thầy quyền phép làm những điều ấy?
28I mai la ia ia, Heaha kou pono e hana'i i keia mau mea? Nawai la hoi oe i haawi mai ia pono e hana i ua mau mea la?
29Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng hỏi các ngươi một câu; hãy trả lời cho ta, thì ta sẽ nói cho các ngươi biết ta làm những điều đó bởi quyền phép nào.
29Olelo aku la Iesu ia lakou, i aku la, E niuau aku no hoi au ia oukou i kekahi mea; e hai mai oukou ia'u, alaila, hai aku au ia oukou i ko'u pono e hana'i i keia mau mea.
30Phép báp-tem của Giăng đến bởi trên trời hay là bởi người ta? Hãy trả lời cho ta đi.
30No ka lani anei ka bapetiso ana a Ioane? No kanaka anei? E hai mai hoi ia'u.
31Vả, họ bàn với nhau như vầy: Nếu chúng ta nói: Bởi trên trời, thì người sẽ nói rằng: Vậy, sao các ngươi không tin lời Giăng?
31Kukakuka iho la lakou ia lakou iho no, i ae la, A i olelo aku paha kakou, No ka lani mai, alaila, e ninau mai no oia ia kakou, No ke aha la hoi oukou i manaoio ole aku ai ia ia?
32Bằng chúng ta nói trái lại: Bởi người ta? Họ sợ dân chúng, vì ai nấy đều tin Giăng thật là Đấng tiên tri.
32Aka, i olelo paha uanei kakou, No kanaka; makau no hoi lakou i kanaka, no ka mea, ua manao nui na kanaka, he kaula io o Ioane.
33Nên họ thưa lại cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Chúng tôi không biết. Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng họ rằng: Ta cũng không nói cho các ngươi biết ta nhờ quyền phép nào mà làm những điều nầy.
33Olelo mai la lakou ia Iesu, i mai la, Aole makou ike. Alaila, olelo aku la Iesu ia lakou, i aku la, Aole no hoi au e hai aku ia oukou i ka'u pono e hana'i i keia mau mea.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.