Mác 8
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Những ngày đó, lại có một đoàn dân đông theo Đức Chúa Jêsus. Vì chúng không có chi ăn, nên Ngài kêu các môn đồ mà phán rằng:
1I A mau la no, he ahakanaka nui loa, aole nae a lakou mea e paina'i, kahea mai la Iesu i kana mau haumana, i mai la ia lakou,
2Ta thương xót đoàn dân nầy: vì đã ba ngày nay, không rời bỏ ta, và chẳng có gì ăn.
2Ke aloha aku nei au i ka ahakanaka, no ka mea, ua noho pu iho nei lakou me au, i na la ekolu, aole hoi a lakou mea e paina'i.
3Nếu ta truyền cho nhịn đói trở về nơi họ ở, dọc đường chắc sẽ kém sức, vì có mấy người đã đến từ nơi xa.
3Ina e hookuu aku au ia lakou i ko lakou hale me ka pololi, e mauleule no lakou ma ke alanui; no ka mea, mai kahi loihi ka hele ana mai o kekahi poe o lakou.
4Môn đồ thưa rằng: Có thể kiếm bánh đâu được trong đồng vắng nầy cho chúng ăn no ư?
4I aku la kana poe haumana ia ia, Nohea la e hiki ai i kekahi ke hoomaona'i ia lakou nei iloko o ka waonahele?
5Ngài hỏi: Các ngươi có bao nhiêu bánh? Thưa: Có bảy cái.
5Ninau mai la oia ia lakou, Ehia na popo berena a oukou? I mai la lakou, Ehiku.
6Ngài bèn biểu đoàn dân ngồi xuống đất; đoạn lấy bảy cái bánh, tạ ơn, rồi bẻ ra trao cho môn đồ để phân phát, thì môn đồ phân phát cho đoàn dân.
6Kanoha mai la ia i kanaka e noho ilalo ma ka lepo. Lawe ae la ia i na popo berena ehiku, hoomaikai aku la, wawahi iho la, haawi mai ia i kana poe haumana, e kau aku imua o ka ahakanaka; a kau aku la lakou.
7Môn đồ cũng có mấy con cá nhỏ; Đức Chúa Jêsus tạ ơn rồi, cũng khiến đem phân phát như vậy.
7He mau wahi ia liilii no hoi kekahi a lakou; hoomaikai aku la ia, a kauoha mai la, e kau aku no hoi ia mau mea.
8Ai nấy ăn no nê; rồi người ta thâu được bảy giỏ những miếng thừa.
8Ai iho la lakou a maona, a hoiliili iho la lakou i ke koena ai, ehiku hinai i piha.
9Vả, những người ăn đó ước chừng bốn ngàn người. Đức Chúa Jêsus cho chúng về;
9A o ka poe i ai, eha tausani lakou; a hookuu aku la oia ia lakou.
10rồi liền vào thuyền với môn đồ, sang xứ Đa-ma-nu-tha.
10Alaila, ee pu aku la ia me kana poe haumana iluna o ka moku, a holo ae la i na mokuna o Dalamanuta.
11Có mấy người Pha-ri-si đến đó, cãi lẽ với Ngài, muốn thử Ngài, thì xin một dấu lạ từ trên trời.
11Hele mai la ka poe Parisaio, a hoomaka e ninaninau mai ia ia, me ka imi i hoailona ana, mai ka lani mai, i hoao ai lakou ia ia.
12Đức Chúa Jêsus than thở trong lòng mà rằng: Làm sao dòng dõi nầy xin dấu lạ? Quả thật, ta nói cùng các ngươi, họ chẳng được ban cho một dấu lạ nào.
12Uwe nui iho la ia iloko o kona naau, i ae la, No ke aha la keia hanauna e imi mai nei i hoailona? Oiaio ke hai aku nei au ia oukou, Aole e haawiia'ku ka hoailona no keia hanauna.
13Ngài bèn bỏ họ, trở vào thuyền mà qua bờ bên kia.
13Haalele iho la oia ia lakou, ee hou aku la maluna o ka moku, a holo aku la i kela kapa.
14Vả, môn đồ quên đem bánh theo, trong thuyền chỉ có một cái bánh mà thôi.
14Ua poina ia lakou ke lawe pu i ka berena, hookahi wale no popo berena a lakou iloko o ka moku.
15Ngài răn môn đồ rằng: Hãy giữ mình cẩn thận về men người Pha-ri-si, và men đãng Hê-rốt.
15Kauoha mai la oia ia lakou, i mai la, E ao oukou e makaala, no ka mea hu a ka poe Parisaio, a me ka mea hu o Herode.
16Môn-đồ nói cùng nhau rằng: Aáy là vì chúng ta không có bánh.
16Ohumu malu iho la lakou ia lakou iho no, i ae la, No ko kakou berena ole paha.
17Nhưng Đức Chúa Jêsus biết điều đó, thì phán rằng: Sao các ngươi nói cùng nhau rằng đó là tại các ngươi không có bánh? Chớ các ngươi còn chưa nghe, chưa hiểu sao? Các ngươi có lòng cứng cỏi luôn ư?
17Ua ike no o Iesu, a i mai la oia ia lakou, No ke aba la oukou i ohumu ai i ko oukou berena ole? Aole anei oukou i noonoo? Aole anei iike? Ua paakiki anei ko oukou naau?
18Các ngươi có mắt mà sao không thấy? Có tai mà sao không nghe? Các ngươi lại không nhớ hay sao?
18He mau maka no ko oukou, aole anei oukou i ike? He mau pepeiao no ko oukou, aole anei oukou i lohe? Aole anei oukou i hoomanao?
19Khi ta bẻ năm cái bánh cho năm ngàn người, các ngươi thâu được mấy giỏ đầy bánh vụn? Thưa: Mười hai giỏ.
19I kuu wawahi ana i na popo berena elima, na na tausani elima, ehia la na hinai i piha i ke koena ai a oukou i hoiliili ai? Hai aku la lakou ia ia, He umikumamalua.
20Còn khi ta bẻ bảy cái bánh cho bốn ngàn người, các ngươi thâu được mấy giỏ đầy bánh vụn? Thưa: Bảy giỏ.
20A i na hiku na na tausani eha, ehia la na hinai i piha i ke koena ai a oukou i hoiliili ai? Hai aku la lakou ia ia, Ehiku.
21Ngài phán: Các ngươi còn chưa hiểu sao?
21A olelo mai la ia ia lakou, Pehea la hoi i hoomaopopo ole mai ai oukou?
22Kế đó, Đức Chúa Jêsus và môn đồ đi đến làng Bết-sai-đa. Người ta đem cho Ngài một người mù và cầu xin Ngài rờ đến người.
22Hele mai la ia i Betesaida, alaila, nalihali ae la lakou i kekahi kanaka makapo io na la, nonoi aku la ia ia, e hoopa mai ia ia.
23Ngài bèn nắm tay người mù, dắt ra ngoài làng, thấm nước miếng trên mắt người, đặt tay trên người, và hỏi, có thấy chi không?
23Lalau iho la ia i ka lima o ke kanaka makapo, alakai aku la ia ia, mai ke kauhale aku; kuha mai la ia i kona mau maka, hoopa mai la kona lima ia ia, ninau mai la i kona ike ana i kekahi mea.
24Người mù ngó lên rồi thưa rằng: Tôi thấy người ta, và nhìn họ đi giống như cây.
24Nana ae la ia iluna, i aku la, Ke ike nei au i kanaka, me he mau laau la e hele ana.
25Rồi Đức Chúa Jêsus lại đặt tay trên mắt người; người nhìn xem, được sáng mắt, thấy rõ ràng cả thảy.
25Mahope iho, kau hou mai la ia i kona lima ma na maka ona, a hoonana hou aku la ia ia iluna; a ola ae la ia, a ike maopopo iho la i kela kanaka i keia kanaka.
26Đức Chúa Jêsus khiến người về nhà, và truyền rằng: Đừng trở vào trong làng.
26Hoihoi ae la o Iesu ia ia i kona hale, i ae la, Mai hele aku i ke kauhale, mai hai aku i ko ke kauhale.
27Đức Chúa Jêsus đi khỏi đó với môn đồ mình, đến trong các làng gần thành Sê-sa-rê Phi-líp. Dọc đường, Ngài hỏi môn đồ rằng: Người ta nói ta là ai?
27Hele aku la Iesu, a me kana poe haumana i na kauhale o Kaisareia Pilipi; ninau ae la ia i kana poe haumana ma ke alaloa, i ka i ana, Owai la wau i ka kanaka olelo?
28Thưa rằng: Kẻ thì nói là Giăng Báp-tít; người thì nói là Ê-li; kẻ khác thì nói là một trong các đấng tiên tri.
28I aku la lakou, O Ioane Bapetite; a o Elia i ka kekahi; a o kekahi o na kaula i ka kekahi.
29Ngài hỏi: Nhưng các ngươi thì nói ta là ai? Phi-e-rơ thưa rằng: Thầy là Đấng Christ.
29Ninau mai la oia ia lakou, Owai la hoi au i ka oukou olelo? Hai aku la o Petero, i aku la ia ia, O ka Mesia no oe.
30Đức Chúa Jêsus bèn cấm ngặt môn đồ chớ nói sự mình cùng ai hết.
30Papa mai la oia ia lakou, mai hai aku ia ia i kekahi kanaka.
31Bấy giờ, Ngài khởi sự dạy môn đồ rằng Con người phải chịu khổ nhiều, phải bị các trưởng lão, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo loại ra, phải chịu giết, sau ba ngày phải sống lại.
31Ilaila kana hoomaka ana e hoike mai ia lakou e hoomainoino nui ia ke Keiki a ke kanaka, a e hooleia e ka poe kahiko, a me ka poe kahuna nui, a me ka poe kakauolelo, a e pepehiia oia, a po akolu ae e ala hou mai.
32Ngài nói tỏ tường điều đó với môn đồ. Phi-e-rơ đem Ngài riêng ra, mà can gián Ngài.
32Hai maopopo mai la oia ia olelo; alaila. lalau ae la o Petero ia ia, a hoomaka e papa aku la ia ia.
33Nhưng Đức Chúa Jêsus xây lại ngó môn đồ, và quở Phi-e-rơ rằng: Hỡi quỉ Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta.
33Haliu ae la Iesu, nana ae la i kana mau haumana, papa ae la ia Petero, i ae la, E hele oe pela mahope o'u, e Satana, no ka mea, aole i like kou manao me ko ke Akua, aka, me ko na kanaka.
34Đoạn, Ngài kêu dân chúng và môn đồ, mà phán rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta.
34A kahea mai la ia i kanaka, a i kana poe haumana no hoi, i mai la ia lakou, O ka mea makemake e hahai mai mahope o'u, e hoole oia ia ia iho, a e kaikai i kona kea, a e hahai mai ia'u.
35Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất; còn ai vì cớ ta và đạo Tin Lành mà mất sự sống, thì sẽ cứu.
35O ka mea manao e malama i kona ola nei, e lilo auanei kona ola, a o ka mea haalele i kona ola no'u nei, a no ka enanelio, e loaa ia ia ke ola.
36Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì?
36Heaha la uanei ko ke kanaka pomaikai ke loaa ia ia ke ao nei a pau, a lilo aku kona uhane?
37Hay là có người nào lấy chi mà đổi linh hồn mình ư?
37Heaha la hoi ko ke kanaka kumu e haawi aku ai, e loaa hou mai ai kona uhane?
38Vì giữa dòng dõi gian dâm tội lỗi nầy, hễ ai hổ thẹn về ta và đạo ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về kẻ ấy, khi ngự trong sự vinh hiển của Cha Ngài mà đến với các thiên sứ thánh.
38O ka mea e hilahila mai ia'u a me ka'u olelo, i keia hanauna kolohe a hana hewa, e hilahila no hoi ke Keiki a ke kanaka ia ia i kona wa e hele mai ai me ka nani o kona Makua, me na anela hemolele.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.