Mác
Chapter 14
Vietnamese Bible (1923 t…

Read in

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)
vs Baibal Olcim (Matu…

Compare with

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Stop comparing
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibal Olcim (Matupi Chin)
1Hai ngày trước lễ Vượt Qua và lễ ăn bánh không men, các thầy tế lễ cả cùng các thầy thông giáo tìm mưu đặng bắt Đức Chúa Jêsus và giết đi.
1Tahae lamkah hnin nit phoeiah Yoom neh vaidamding om pawn ni. Te vaengah khosoihham rhoek neh cadaek rhoek loh Jesuh te mebang tuengkhuepnah nen khaw tuuk tih ngawn ham a mae uh.
2Vì họ nói rằng: Chẳng nên làm việc nầy trong này lễ, sợ sanh sự xôn xao trong dân chúng.
2“ Tedae khotue vaengah boel saeh, pilnam kah olpung kacan la om ve,” a ti uh.
3Đức Chúa Jêsus ở tại làng Bê-tha-ni, trong nhà Si-môn là kẻ phung. Ngài đang ngồi bàn ăn, có một người đàn bà vào, đem một cái bình bằng ngọc, đựng đầy dầu cam tòng thật rất quí giá, đập bể ra mà đổ dầu thơm trên đầu Đức Chúa Jêsus.
3Te phoeiah Jesuh te Bethany ah aka om hmaibae Simon im ah yalh. Anih te huta pakhat loh a paan tih botui lungbok a khuen pah. Te bang nardo cilh tah te a phutlo. Lungbok te a boh tih a lu te a suep pah.
4Có vài người nổi giận nói cùng nhau rằng: Sao xài phí dầu thơm ấy như vậy?
4Tedae amih khuiah te aka yakdam hlangvang om.Te dongah , “Baham nim botui he pocinah a khueh he?
5Vì có thể bán dầu đó được hơn ba trăm đơ-ni-ê, mà bố thí cho kẻ khó khăn. Vậy, họ oán trách người.
5He botui he denari yathum hlai la a yoih vetih khodaeng te a paek mako tila anih te a thanueih thiluh.
6Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để mặc người; sao các ngươi làm rầy người mà chi? Người đã làm một việc tốt cho ta.
6Tedae Jesuh loh, “ Anih te hlah uh, balae tih anih te thakthaenah neh na toeh uh. Kai dongah bibi then a saii .
7Vì các ngươi hằng có kẻ khó khăn ở cùng mình, khi nào muốn làm phước cho họ cũng được; nhưng các ngươi chẳng có ta ở luôn với đâu.
7khodaeng rhoek te nangmih taengah om uh taitu tih na ngaih uh vaengah amih ham a then na saii uh thai. Tedae kai ka om taitu moenih .
8Người đã làm điều mình có thể làm được, đã xức xác cho ta trước để chôn.
8A khueh duen te a saii coeng. Rhokhlaknah dongah ka pumsa he hluk hamla a sawn .
9Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong khắp cả thế gian, hễ nơi nào Tin Lành nầy được giảng ra, việc người đã làm cũng sẽ được nhắc lại để nhớ đến người.
9Te dongah nangmih taengah rhep kan thui, Diklai pum kah olthangthen a hoe nah takuem ah anih loh a saii te khaw a kutmuei la a thui ni,” a ti nah.
10Bấy giờ, Giu-đa ỗch-ca-ri-ốt là một trong mười hai sứ đồ, đến nơi các thầy tế lễ cả, để nộp Đức Chúa Jêsus cho.
10Te phoeiah hlainit khuikah pakhat Judah Iskariot loh Jesuh te amih khosoihham rhoek taengah yoih hamla cet.
11họ vui lòng mà nghe và hứa cho nó tiền bạc; rồi Giu-đa tìm dịp tiện để nộp Ngài.
11Te rhoek loh a yaak uh vaengah a uem uh tih anih te tangka paek ham a caeng uh. Te dongah anih voeih ham te a hoenghoep a dawn.
12Ngày thứ nhất về lễ ăn bánh không men, là ngày giết chiên con làm lễ Vượt Qua, các môn đồ thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Thầy muốn chúng tôi đi dọn cho thầy ăn lễ Vượt Qua tại đâu?
12Vaidamding kah lamhmacuek hnin kah yoom a ngawn uh vaengah a hnukbang rhoek loh amah taengah, “Melam na ngaih dae, ka cet uh saeh lamtah , yoom caak ham ka tarhoek uh eh,” a ti nah.
13Ngài sai hai môn đồ đi, và dặn rằng: Hãy vào thành, sẽ gặp một người xách vò nước; cứ theo sau,
13Te dongah a hnukbang panit te a tueih. Te vaengah amih rhoi te , “ Khopuei khuila cet rhoi lamtah tuitang dongah tui aka phuei hlang loh nangmih rhoi n'doe ni .
14hễ người vào nhà nào, các ngươi sẽ nói cùng chủ nhà ấy rằng: Thầy phán: Cái phòng ta sẽ dùng ăn lễ Vượt Qua với môn đồ ta ở đâu?
14Anih te vai rhoi lamtah a kun nah imkung te , ' Saya loh , ' Kai impahnah te melam a om, te rhoek ah ka hnukbang rhoek neh yoom ka ca uh mai eh ,’ a ti , ti nah rhoi .
15Chính kẻ đó sẽ chỉ cho các ngươi một cái phòng lớn trên lầu có đồ đạc sẵn sàng, hãy dọn tại đó cho chúng ta.
15Te vaengah anih loh , “Imhman len a sikim la a rhoekbah te nangmih rhoi n'tueng bitni. Te vaengah mamih ham pahoi rhuengphong rhoi,” a ti nah.
16Vậy, hai môn đồ đi ra mà vào thành, gặp mọi điều như lời Ngài đã phán, rồi dọn lễ Vượt Qua.
16Hnukbang rhoi te cet rhoi tih kho khuila a kun rhoi vaengah amih rhoi a uen bangla a hmuh rhoi tih yoom te a rhuengphong rhoi.
17Buổi chiều, Ngài đến với mười hai sứ đồ.
17Hlaem a pha vaengah hnukbang hlainit neh ha pawk.
18Đang ngồi ăn, Đức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong vòng các ngươi có một kẻ ngồi ăn cùng ta, sẽ phản ta.
18Te phoeiah a vael uh tih a caak uh vaengah Jesuh loh, “ Nangmih taengah rhep ka thui. Nangmih khuikah pakhat, kai taengah aka ca loh kai m'voeih ni te,” a ti nah.
19Các môn đồ bèn buồn rầu lắm, cứ lần lượt mà thưa cùng Ngài rằng: Có phải tôi chăng?
19Vik a kothae uh tih, pakhat phoeiah pakhat loh Jesuh te , “Kai mai khaming,” a ti nauh.
20Ngài đáp rằng: Aáy là một trong mười hai người, là người thò tay vào mâm cùng ta.
20Te dongah Jesuh loh amih te, “ Hlainit khuikah pakhat, kai taengah baeldung khuila aka puei te .
21Vì Con người đi, y như lời đã chép về Ngài; song khốn cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn.
21Hlang capa tah a kawng a daek tangtae bangla a caeh te thuem. Tedae anih hlang pakhat loh hlang capa a voeih te anunae. Tekah hlang te thaang pawt koinih anih ham then ni,” a ti nah.
22Khi đang ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn, đoạn bẻ ra trao cho các môn đồ, mà phán rằng: Hãy lấy, nầy là thân thể ta.
22A caak uh vaengah, vaidam te a loh tih yoethen a paek . A aeh phoeiah amih te a doe tih, “He he kamah pum ni lo uh,” a ti nah.
23Ngài lại cầm chén, tạ ơn, rồi trao cho các môn đồ, và ai nấy đều uống.
23Boengloeng te khaw a loh tih a uem phoeiah amih te a paek tih rhip a ok uh.
24Ngài phán rằng: Nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đổ ra cho nhiều người.
24Te phoeiah amih taengah, “ He tah ka thii neh cungkuem ham ka long sak paipi ni .
25Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không uống trái nho nầy nữa, cho đến ngày ta sẽ uống trái nho mới trong nước Đức Chúa Trời.
25Nangmih taengah rhep ka thui, Pathen kah ram ah a thai la ka ok nah khohnin duela misur thaih ka o voel loengloeng mahpawh,” a ti nah.
26Khi đã hát thơ thánh rồi, Chúa và môn đồ đi ra đặng lên núi ô-li-ve.
26Te phoeiah a hlai doeah olives tlang la cet uh.
27Đức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ rằng: Hết thảy các ngươi sẽ gặp dịp vấp phạm; vì có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì bầy chiên sẽ tan lạc.
27Te phoeiah Jesuh loh amih te, “ Boeih n'khah uh ni . ' Tudawn te ka tam vetih tu rhoek te pam ni , ' tila a daek coeng .
28Nhưng khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi.
28Tedae kai ka thoh phoeiah Galilee la nangmih hmaiah ka lamhma ni,” a ti nah.
29Phi-e-rơ thưa rằng: Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, nhưng tôi chẳng hề làm vậy.
29Te dongah Peter loh Jesuh taengah, “Boeih a khah uh mai akhaw, kai van moenih,” a ti nah.
30Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay, cũng trong đêm nay, trước khi gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba lần.
30Te vaengah Jesuh loh anih te, “ Namah taengah rhep kan thui, tihnin hlaem ah he ai hnavoei a khong hlanah nang loh kai he voeithum nan huek uh tak ni,” a ti nah.
31Nhưng Phi-e-rơ lại thưa cách quả quyết hơn rằng: Dầu tôi phải chết cùng thầy, tôi cũng chẳng chối thầy đâu. Hết thảy các môn đồ khác cũng đều nói như vậy.
31Tedae, “Nang hamla kai ka duek te a kuek cakhaw nang kan huek uh tak loengloeng mahpawh,” khak a ti nah. Te vanbangla a tloe boeih long khaw a ti uh.
32Kế đó, đi đến một nơi kia, gọi là Ghết-sê-ma-nê, Đức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ rằng: Các ngươi hãy ngồi đây, đợi ta cầu nguyện.
32Te phoeiah Gethsemene aka ming nah hmuen la cet uh tih a hnukbang rhoek te, “Ka thangthui rhuetah tah heah he ana ngol uh,” a ti nah.
33Ngài bèn đem Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đi, thì Ngài khởi sự kinh hãi và sầu não.
33Te phoeiah Peter, James neh Johan te amah taengla a khuen. Te vaengah ngaihmang neh khobing te a tong coeng .
34Ngài phán cùng ba người rằng: Linh-hồn ta buồn rầu lắm cho đến chết; các ngươi hãy ở đây, và tỉnh thức.
34Te dongah amih te, “Ka hinglu loh kothae a ming tih vat duek. Heah he naeh uh lamtah ana hak uh,” a ti nah.
35Rồi Ngài đi một đỗi xa hơn, sấp mình xuống đất mà cầu nguyện rằng: nếu có thể được, xin giờ nầy qua khỏi mình.
35Tedae hawt lamhma tih lai ah bakop. Te vaengah coeng thai la a om atah a tue loh anih a khum tak ham ni a thangthui coeng .
36Ngài rằng: A-ba lạy Cha, mọi việc Cha làm được cả; xin Cha cất chén nầy khỏi con; nhưng không theo điều con muốn, mà theo điều Cha muốn.
36Te vaengah, “ Abba, a pa, nang ham tah boeih yoeikoek mai, hekah boengloeng he kai lamkah loh khoe mai. Tedae kai ngaih boel saeh lamtah namah ngaih mai saeh,” a ti.
37Rồi Ngài trở lại, thấy ba người ngủ; bèn phán cùng Phi-e-rơ rằng: Si-môn, ngủ ư! Ngươi không thức được một giờ sao?
37Ha pawk vaengah amih a ih te a hmuh tih, Peter taengah, “ Simon, na ip nama? Khonoek pakhat pataeng na hak thai mahnim ?
38Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để các ngươi khỏi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối.
38Hak uh lamtah thangthui uh. Te daengah ni cuekhalhnah khuiah na pha pawt eh. Mueihla loh a yakvawt ngawn dae pumsa loh tattloel,” a ti nah.
39Ngài lại đi lần nữa, và cầu nguyện, y như lời trước.
39Te phoeiah koep cet tih amah a thui tangtae ol neh thangthui.
40Ngài trở lại, thấy môn đồ còn ngủ, vì con mắt đã đừ quá; và không biết trả lời cùng Ngài thể nào.
40Koep ha pawk vaengah tah amih a ih a hmuh. Aka om rhoek te a mik loh a nan uh. Te dongah Jesuh a doo uh ham te ming uh pawh.
41Ngài trở lại lần thứ ba, phán cùng môn đồ rằng: Bây giờ các ngươi ngủ và nghỉ ngơi ư! thôi, giờ đã tới rồi; nầy, Con người hầu bị nộp trong tay kẻ có tội.
41A pathum kah ha pawk vaengah amih te, “ Yulh na ip uh tih caih laeh Tamah saeh. A tue ha pawk coeng. Hlang Capa tah hlangtholh rhoek kut ah a voeih coeng he .
42Hãy chờ dậy, đi hè; kìa, đứa phản ta đã đến gần.
42Thoo uh, cet uh pawn sih, kai aka voei tah, ha yoei coeng ke,” a ti nah.
43Ngài đang còn phán, tức thì Giu-đa, là một trong mười hai sứ đồ thoạt đến với một toán đông cầm gươm và gậy, bởi các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, và các trưởng lão phái đến.
43A thui li vaengah, hlainit khuikah pakhat Judah te pakcak ha pawk. Te vaengah anih te khosoihham neh, cadaek rhoek neh, patong rhoek kah a tueih hlangping loh cunghang neh thingboeng neh a pueiuh.
44Vả, đứa phản Ngài đã cho chúng dấu hiệu nầy: Hễ tôi hôn ai, ấy là người đó; hãy bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận.
44Te vaengah anih aka voei loh amih mikhip a paek tih, “ Ka mok te tah anih ni. Anih te tuu uh lamtah rhep khuen uh ,” a ti nah.
45Vậy, khi Giu-đa đến rồi, liền lại gần Ngài mà nói rằng: Lạy thầy! Rồi nó hôn Ngài.
45Te dongah ha pawk neh Jesuh te koe a paan tih, “Rhabbi,” a ti nah phoeiah a mok.
46Chúng bèn tra tay bắt Đức Chúa Jêsus.
46Te rhoek loh kut a hlah thil uh tih Jesuh te a tuuk uh.
47Có một người trong những kẻ ở đó rút gươm ra, đánh một đứa đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, chém đứt tai đi.
47Tedae aka pai khuikah pakhat loh cunghang te a yueh tih khosoihham kah sal te a boeng hatah a hna a pat pah.
48Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán cùng chúng rằng: Các ngươi đem gươm và gậy đến bắt ta như ta là kẻ trộm cướp.
48Te dongah Jesuh loh amih te a doo tih, “ Dingca bangla, cunghang neh thingboeng neh kai tuuk ham nan suntlak thil uh .
49Ta hằng ngày ở giữa các ngươi, giảng dạy trong đền thờ, mà các ngươi không bắt ta; nhưng điều ấy xảy đến, để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm.
49Khohnin takuem nangmih taengah ka om tih bawkim ah ka thuituen vaengah kai na tuu uh pawh. Tedae he nen ni cacim tah a soep eh?,” a ti nah.
50Bấy giờ, mọi người đều bỏ Ngài và trốn đi cả.
50Te vaengah Jesuh te a hlah uh tih boeih rhaelrham uh.
51Có một người trẻ tuổi kia theo Ngài, chỉ có cái khăn bằng gai trùm mình; chúng bắt người.
51Tedae amah taengah aka bang cadong pakhat loh Jesuh pumtling te himbai neh a khuk hatah anih te khaw a tuuk uh.
52Nhưng người bỏ khăn lại, ở truồng chạy trốn khỏi tay chúng.
52Te long khaw himbai te a hnoo tih pumtling la rhaelrham van.
53Chúng điệu Đức Chúa Jêsus đến nơi thầy cả thượng phẩm, có hết thảy thầy tế lễ cả, trưởng lão, và thầy thông giáo nhóm họp tại đó.
53Jesuh te khosoihham taengla a khuen uh hatah khosoihham rhoek, patong rhoek neh cadaek rhoek loh boeih a khoong thiluh.
54Phi-e-rơ theo sau Ngài xa xa, cho đến nơi sân trong của thầy cả thượng phẩm; rồi ngồi với quân lính gần đống lửa mà sưởi.
54Peter long tah a hla lamloh khosoihham kah vongup khui duela a vai. Te phoeiah tueihyoeih rhoek taengah ngol tih hmaivang te rhet a om.
55Vả, các thầy tế lễ cả, cùng cả tòa công luận đều tìm chứng gì để nghịch cùng Đức Chúa Jêsus đặng giết Ngài, song không kiếm được chi hết.
55Te vaengah khosoihham rhoek neh khoboei pum loh Jesuh te duek sak ham laipai a toem uh dae hmu uh pawh.
56Vì có nhiều kẻ làm chứng dối nghịch cùng Ngài; nhưng lời họ khai chẳng hiệp nhau.
56Jesuh te muep a pael uh dae laipai rhoek te cikngae la om uh pawh.
57Bấy giờ có mấy người đứng lên làm chứng dối nghịch cùng Ngài rằng:
57Angen loh pai tih anih a pael nah la,
58Chúng tôi có nghe người nói: Ta sẽ phá đền thờ nầy bởi tay người ta cất lên, khỏi ba ngày, ta sẽ cất một đền thờ khác không phải bởi tay người ta cất.
58” Hekah kutsai bawkim he kai loh ka phae vetih hnin thum phoeiah a tloe kutsai mueh te ka sak ni, 'a ti te ka yaak uh coeng, ” a ti uh.
59Song về điều nầy, lời chứng của họ cũng chẳng hiệp nhau nữa.
59Amih kah olthui te khaw cikngae la om bal pawh.
60Khi ấy, thầy cả thượng phẩm đứng dậy giữa hội đồng, tra hỏi Đức Chúa Jêsus mà rằng: Ngươi chẳng đối đáp chi hết về những điều các kẻ nầy cáo ngươi sao?
60Te dongah khosoihham tah a laklung ah pai tih Jesuh te a dawt tih, “Khat khaw na doo mahpawt a? Amih loh nang m'pael uh te,” a ti nah.
61Nhưng Đức Chúa Jêsus làm thinh, không trả lời chi hết. Thầy cả thượng phẩm lại hỏi: Aáy chính ngươi là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời đáng ngợi khen phải không?
61Tedae hil a phah tih pakhat khaw doo pawh. Khosoihham loh Jesuh te koep a dawt tih, “Nang he, uemom Capa Khrih a?” a ti nah.
62Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta chính phải đó; các ngươi sẽ thấy Con người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự giữa đám mây trên trời mà đến.
62Te dongah Jesuh loh, “ Kai ni, hlang capa te thaomnah bantang ah ngol vetih vaan khomai neh ha pawk te na hmuh uh bitni,” a ti nah.
63Bấy giờ thầy cả thượng phẩm xé áo mình ra mà rằng: Chúng ta có cần kiếm chứng cớ khác nữa làm chi?
63Te vaengah khosoihham loh a angki te a phen tih, “Laipai n'ngoe uh pueng a te?
64Các ngươi có nghe lời lộng ngôn chăng? Các ngươi nghĩ thế nào: Ai nấy đều đoán Ngài đáng chết.
64soehsalnah te na yaak uh coeng. Metlam na poek uh ,” a ti nah. Amih loh anih te dueknah yook sak kuekluek hamla boeih a boe sakuh.
65Có kẻ nhổ trên Ngài, đậy mặt Ngài lại, đấm Ngài, và nói với Ngài rằng: Hãy nói tiên tri đi! Các lính canh lấy gậy đánh Ngài.
65Te dongah hlangvang loh Jesuh te koe a timthoeih uh phoeiah, a maelhmai te a thing pa uh tih a thoek uh. Te phoeiah Jesuh te, “Olphong lah!” a ti na uh. Tueihyoeih rhoek kah kutcaihnah te khaw a duen pah.
66Phi-e-rơ đang ở dưới nơi sân, có một đầy tớ gái của thầy cả thượng phẩm đến,
66Peter te vongtung hmui ah a om vaengah khosoihham kah salnu pakhat te ha pawk.
67thấy Phi-e-rơ đang sưởi, ngó người mà rằng: ngươi trước cũng ở với Jêsus Na-xa-rét!
67Hmai aka om Peter te a hmuh vaengah amah te a sawt tih, “Nang khaw Nazareth Jesuh taengah na om van,” a ti nah.
68Nhưng người chối rằng: Ta không biết, ta không hiểu ngươi nói chi. Đoạn, người bước ra tiền đường, thì gà gáy.
68Tedae a aal tih, “Ka ming moenih, na thui te ka hmat moenih,” a ti nah. Tedae thohkaeng la voelh a caeh vaengah ai khong.
69Đầy tớ gái đó thấy người, lại nói cùng những người ở đó rằng: Người nầy cũng là bọn đó.
69Te phoeiah Peter te salnu loh koep a hmuh tih aka pai rhoek taengah, “Anih he amih kah hlang ni,” a ti nah.
70Nhưng người lại chối một lần nữa. Khỏi một chặp, những kẻ đứng đó nói cùng Phi-e-rơ rằng: Chắc thật, ngươi cũng là bọn đó, vì ngươi là người Ga-li-lê.
70Tedae koep a aal bal. Rhaih a om phoeiah aka pai rhoek loh Peter te, “Amih kah hlang rhep ni, Galilee hoel van ni,” a ti na uh.
71Người bèn rủa mà thề rằng: Ta chẳng hề quen biết với người mà các ngươi nói đó!
71Te dongah pahoi thae a phoei tih, “Hekah hlang na thui uh he ka ming moenih, “tila a toemngam.
72Tức thì gà gáy lần thứ hai; Phi-e-rơ bèn nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã phán rằng: Trước khi gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba lần. Người tưởng đến thì khóc.
72Ai a pabae la pahoi khong tih Jesuh loh anih taengah, “ Ai hnavoei a khong tom ah kai voeithum nan huek uh tak ni,” a ti nah ol te Peter loh a poek tih hlut rhap.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.