Mác 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Meriam Mir Gospels
1Đức Chúa Jêsus lại khởi sự giảng dạy nơi bờ biển; có một đoàn dân đông lắm nhóm lại xung quanh Ngài, Ngài bước lên trong một chiếc thuyền và ngồi đó, còn cả đoàn dân thì ở trên đất nơi mé biển.
1E iako degerati ko ereuerem keper tauer ge, gaire le netate gedim abim, abelelam E nar atiem, a emri, uiaba uridili tauer ge bamer.
2Ngài lấy thí dụ dạy dỗ họ nhiều điều, và trong khi dạy, Ngài phán rằng:
2Gaire mer E uiabim ereuerem mer babisdarie, E uiabidaratagerare abara okadeskeda, kega,
3Hãy nghe. Có người gieo giống đi ra đặng gieo.
3Uaba aserauem; Dasmer, nerute amorda le bakeam ko emor:
4Khi đang gieo, một phần giống rơi dọc đường, chim đến ăn hết.
4E dikri, a uader kep gab dege abi, epe ebur giz kotorlam tabakeuda abele eroare.
5Một phần khác rơi nhằm nơi đất đá sỏi, chỉ có ít đất thịt, tức thì mọc lên, vì bị lấp không sâu;
5Uader kep tumem neidge abi, kebi seb ge; sobkak omeili, abelelam lerkar seb ge:
6nhưng khi mặt trời đã mọc, thì bị đốt, và bởi không có rễ, nên phải héo.
6Gerger eupamada, a eueri, a eumili, abelelam nole sip kak.
7Một phần khác rơi nhằm bụi gai; gai mọc rậm lên làm cho nghẹt ngòi, và không kết quả.
7Uader kep lu eipu daradara ge omeili, a detarapi, abelelam nole turum kak.
8Một phần khác nữa rơi nhằm nơi đất tốt, thì kết quả, lớn lên và nẩy nở ra; một hột ra ba chục, hột khác sáu chục, hột khác một trăm.
8Uader kep debe seb ge abi, a omeili, a esali, a turum turum; a turum therti nagri, a sikesti; a uan handed.
9Ngài lại phán rằng: Ai có tai mà nghe, hãy nghe.
9E uiabim detagereda, kega, Le grip nagri ko asoli, debele E asoli.
10Khi Đức Chúa Jêsus ở một mình, những kẻ xung quanh Ngài cùng mười hai sứ đồ hỏi Ngài về các lời thí dụ.
10E tepteb emri, gaire le abi dog emri, pako tuelf le, abi itmer tonar abele mer babisdarie.
11Ngài phán rằng: Sự mầu nhiệm của nước Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho các ngươi; nhưng về phần người ngoài, thì dùng cách thí dụ để dạy mọi sự,
11E uiabim detagereda, kega, Gaire mu tonar Ade ra baselaia uabi dekuarare ko opaserertem; emetu ikeli abele gaire lu abkoreb uiabim nogle giz:
12hầu cho họ xem thì xem mà không thấy, nghe thì nghe mà không hiểu; e họ hối cải mà được tha tội chăng.
12Abelelam ui ko dasmerare, epe nole asmer kak; a asoli, epe nole asor kak; uiaba depegelam, a uiaba uit ko detue.
13Đoạn, Ngài phán rằng: Các ngươi không hiểu thí dụ ấy sao? Vậy thì thế nào hiểu mọi thí dụ được?
13E uiabim detagereda, kega, Nako, uaba nole asmer kak abele mer babisdarie? epe nako uaba ko umele gaire mer babisdarie uridili?
14Người gieo giống ấy là gieo đạo.
14Abele amorda le, emor Ade ra mer.
15Những kẻ ở dọc đường là kẻ đã chịu đạo gieo nơi mình; nhưng vừa mới nghe đạo, tức thì quỉ Sa-tan đến, cướp lấy đạo đã gieo trong lòng họ đi.
15Abele uader le gab ge, abele mer uiabi dog emor; uiaba asereda, epe Satana tabarki, abele mer uiabi nerkep ge emor ekadari.
16Cũng vậy, những người chịu giống gieo nơi đất đá sỏi, là những kẻ nghe đạo, liền vui mừng chịu lấy;
16Abele uader tumem neid ge emor; uiaba abele mer asereda, a sobkak sererge erperida;
17song vì trong lòng họ không có rễ, chỉ tạm thời mà thôi, nên nỗi gặp khi vì cớ đạo mà xảy ra sự cực khổ, bắt bớ, thì liền vấp phạm.
17Epe nole sip kak muige uiaba nerkep ge, abelelam nole niaiem ekue; menaba asiasi a dedkoli abele merlam tabarki, sobkak uiaba bakesmiri.
18Còn những kẻ chịu giống gieo nơi bụi gai, là kẻ đã nghe đạo;
18Abele uader le eipu daradara ge emor; uiaba abele mer asoli,
19song sự lo lắng về đời nầy, sự mê đắm về giàu sang, và các sự tham muốn khác thấu vào lòng họ, làm cho nghẹt ngòi đạo, và trở nên không trái.
19Epe gaire dikiapor lu lag geseb ge uiabi nerkep ge badari, pako geseb lu okardarem, pako uader lu lag, abele mer etarapi, epe nole turum kak.
20Nhưng, những người chịu giống gieo vào nơi đất tốt, là kẻ nghe đạo, chịu lấy và kết quả, một hột ra ba chục, hột khác sáu chục, hột khác một trăm.
20Ege uader emor debe seb ge; uiaba abele mer asoli, a mamor erpeili, a turum turum, uader therti, a uader sikesti, a uader uan handed.
21Ngài lại phán cùng họ rằng: Có ai đem đèn để dưới cái thùng hoặc dưới cái giường chăng? Há chẳng phải để trên chân đèn sao?
21E uiabim detagereda, kega, Nako, lamepa ikedi kumete lokod ge, a laulau lokod ge? epe nole tum ge ikedi lamepa uteb?
22Vì chẳng có điều chi kín mà không phải lộ ra, chẳng có điều chi giấu mà không phải rõ ràng.
22Epe nole lu ispili, a nole opasereret kak; pako nole mud ge lu, a nole akmer kak.
23Nếu ai có tai mà nghe, hãy nghe!
23Ese nerute le grip nagri ko asoli, debele E asoli.
24Ngài lại phán rằng: Hãy cẩn thận về điều mình nghe. Người ta sẽ đong cho các ngươi bằng lường các ngươi đã đong cho, và thêm vào đó nữa.
24E uiabim detagereda, kega, Uaba mamoro aserauem; abele tonar uaba detare, ko uabim detare; a ko uabi daisuerare le asereda.
25Vì sẽ ban thêm cho kẻ nào có; nhưng kẻ nào không có, sẽ bị cất lấy điều mình đã có.
25Le nagri, ko abi ikuar; le nole nagri kak, ko ekada abele lu abi dog.
26Ngài lại phán rằng: Nước Đức Chúa Trời cũng như một người vải giống xuống đất;
26E detagereda, kega, Ade ra baselaia mokakalam le kep dikri seb ge;
27người ngủ hay dậy, đêm và ngày, giống cứ nẩy chồi mọc lên, mà người không biết thể nào.
27E ko uteid, a ekeamlu ki ge a gerger, abele kep uai omeida, a bataile, E nole umer kak nagelam.
28Vì đất tự sanh ra hoa lợi: ban đầu là cây, kế đến bông, đoạn bông kết thành hột.
28Tababu seb ge omeili; uai kekiam, sik keubu, epe turum agiag.
29Khi hột đã chín, người ta liền tra lưỡi hái vào, vì mùa gặt đã đến.
29Turum agiag, epe namarida ko tigri, kerker ge nurabi.
30Ngài lại phán rằng: Chúng ta sánh nước Đức Chúa Trời với chi, hay lấy thí dụ nào mà tỏ ra?
30E detagereda, kega, Na lu meriba ko abkoreb Ade ra baselaia? na lu abkoreb abele babisdarie?
31Nước ấy giống như một hột cải: khi người ta gieo, nó nhỏ hơn hết các hột giống trên đất;
31Abele mokakalam sinapi kep, emetu emor, kebikebi kep tumem gaire kep uridili geseb ge emor,
32song khi gieo rồi, nó mọc lên, trở lớn hơn mọi thứ rau, và nứt ra nhành lớn, đến nỗi chim trời núp dưới bóng nó được.
32Emetu emor, E omeida, a aule tumem gaire lu ekekri, epe gaire au tam disiri; a gaire ebur epereda mudi ge igiredi.
33Aáy bởi nhiều lời thí dụ như cách ấy mà Ngài giảng đạo cho họ, tùy theo sức họ nghe được.
33E Ade ra mer uiabim detagereda, mokakalam gaire mer babisdarie, abkoreb uiaba umele asoli.
34Ngài chẳng hề giảng cho chúng mà không dùng thí dụ; nhưng, khi ở riêng, Ngài cắt nghĩa hết cho môn đồ mình.
34E nole uiabim atager kak, ese nole mer babisdarie; uiaba mud uteb ge, E uiabim, abara kaimeg giz, gaire tonar mer detaut.
35Đến chiều ngày ấy, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy qua bờ bên kia.
35Abele gerger kikem, E uiabim daratagereda, kega, Minaba atiem nerut apekem.
36Khi cho dân chúng tan về rồi, Đức Chúa Jêsus cứ ở trong thuyền, và môn đồ đưa Ngài đi; cũng có các thuyền khác cùng đi nữa.
36Uiaba emetu le lakub emarida, uiaba abi egared nar ge atiem. Uader kebi nar abi doakri.
37Vả, có cơn bão lớn nổi lên, sóng tạt vào thuyền, đến nỗi gần đầy nước;
37Au ui tabarki, a gaire zauber nar etatkoi, a mitkar.
38nhưng Ngài đang ở đằng sau lái, dựa gối mà ngủ. Môn đồ thức Ngài dậy mà thưa rằng: Thầy ôi, thầy không lo chúng ta chết sao?
38E amaz ge kor ge uteidi: uiaba abi itir, a abi detager, kega, Kole, mama laglag ki nabaume?
39Ngài bèn thức dậy, quở gió và phán cùng biển rằng: Hãy êm đi, lặng đi! Gió liền dứt và đều yên lặng như tờ.
39E tekue, uag daisumda, a gur detager, kega, Bamer, debe meda. Iako uag ekeamulu, ege metalu.
40Đoạn, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi sợ? Chưa có đức tin sao?
40E uiabim daratagereda, kega, Nalugelam uaba geum mokakalam? nako uaba nole oatur kak?
41Môn đồ kinh hãi lắm, nói với nhau rằng: Vậy thì người nầy là ai, mà gió và biển cũng đều vâng lịnh người?
41Uiaba au geumu, a mer atagere, kega, Nete dali, uag a gur abi asoli?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.