Mác 9
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Meriam Mir Gospels
1Ngài lại phán cùng môn đồ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong những người đứng đây, có mấy kẻ chẳng chết trước khi chưa thấy nước Đức Chúa Trời lấy quyền phép mà đến.
1E uiabi daratagereda, kega, Ageakar, kaka uabi detagereda, kega, Uader gaire le ge tekue, nole eud kak, kekiam uiaba Ade ra baselaia dasmerauem tabarki kemem adgiri.
2Khỏi sáu ngày, Đức Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng đi tẻ với Ngài lên núi cao; và Ngài hóa hình trước mặt ba người.
2Eseamuda abele gaire gerger sikes, Iesu Peteru tegadare, a Iakobo, a Ioane, a uiabi taraisare tumem perepere paser, uiaba tepteb: abara gem uiabi opem depegemelu.
3Aùo xống Ngài trở nên sáng rực và trắng tinh chói lòa, đến nỗi chẳng có thợ phiếu nào ở thế gian phiếu được trắng như vậy.
3Abara am uali zoromzorom, kakekake mokakalam kiona ise; le ogarup umer kak ko kakekake mokakalam.
4Ê-li và Môi-se hiện ra, nói chuyện cùng Đức Chúa Jêsus.
4Elia a Mose uiabim paret kak; a uiaba mer atager Iesuim.
5Phi-e-rơ bèn cất tiếng thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy thầy, chúng ta ở đây tốt lắm; hãy đóng ba trại, một cái cho thầy, một cái cho Môi-se, và một cái cho Ê-li.
5Peteru Iesui detager, kega, Opole ae, debele meriba emri ike, keriba thri nole niai meta akerare; mara nerute, Mose ra nerute, a Elia ra nerute ko.
6Vì Phi-e-rơ không biết mình nói chi, tại cả ba đều sợ hãi.
6E nole akiapor kak abele mer E detager; abelelam uiaba au geum.
7Lại có một đám mây bao phủ lấy; và từ đám mây có tiếng phán rằng: Người nầy là Con rất yêu dấu của ta, hãy vâng nghe người.
7Uiaba natkamda baz de; abele kodo mer teosmeda bazelam, kega, Kara Uerem nasge idali: uaba mamor abim asoli.
8Thình lình, các môn đồ ngó quanh quất, chẳng thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Chúa Jêsus ở với mình mà thôi.
8Sobkak uiaba bager, a nole le asmer kak, epe Iesu tepteb uiabi dog.
9Khi từ trên núi xuống, Ngài cấm môn đồ đừng nói lại với ai những điều mình đã thấy, cho đến chừng nào Con người từ kẻ chết sống lại.
9Uiaba paserlam tabatueli, Iesu uiabi mer tigri, uiaba nole atomeret kak abele lu uiaba emetu dasmerare, pe kekiam Le la Uerem eded akaida eudelam.
10Vậy, môn đồ ghi nhớ lời ấy, và hỏi nhau sự từ kẻ chết sống lại là gì.
10Uiaba abele mer mamor asesered, a uiaba mer atager tonar abele eded akaida eudelam.
11Lại hỏi Ngài rằng: Sao các thầy thông giáo nói rằng: Ê-li phải đến trước?
11Uiaba abi eutumer, kega, Nako, aotale giz detagereda, kega, Elia ko kekiam tabarki?
12Ngài đáp rằng: Thật Ê-li phải đến trước sửa lại mọi việc. Vậy thì sao có chép về Con người rằng Ngài phải chịu khổ nhiều và bị khinh dể ư?
12E uiabi detagereda, kega, Ageakar, Elia ko kekiam tabakeam, gaire lu ko barditug; mokakalam emetu detali Le la Ueremlam, E ko au asiasi, a abi desauersili.
13Vả, ta nói cùng các ngươi, Ê-li đã đến rồi, người ta đãi người theo ý muốn mình, y như lời đã chép về việc người vậy.
13Kaka uabi detagereda, kega, Elia emetu tabarki, uiaba emetu abim ikeli uiaba lag, mokakalam emetu detali abielam.
14Đức Chúa Jêsus với ba người đến cùng các môn đồ khác, thì thấy đoàn dân rất đông vây chung quanh, và mấy thầy thông giáo đang cãi lẽ với các môn đồ ấy.
14Uiaba abara kaimeg giz tabarki, uiaba dasmer gaire le lakub uiabi dog deraueili, a aotale giz uiabim mer atager.
15Cả đoàn dân nầy vừa thấy Ngài, liền lấy làm lạ, thảy đều chạy đến chào Ngài.
15Uiaba uridili abi dasmerare, sobkak uiaba damreda, a abim koreder kega, Maiem.
16Ngài bèn hỏi rằng: Các ngươi cãi lẽ với môn đồ về việc gì?
16E aotale giz itmer, kega, Nako uaba uiabi mer atager?
17Một người trong đám đông thưa rằng: Lạy thầy, tôi đã đem con trai tôi tới cho thầy; nó bị quỉ câm ám,
17Nerute le kublam detaut, kega, Tarim le ae, kaka marim tegardelu kara uerem, nagri lamar te dabim dabim;
18không cứ chỗ nào quỉ ám vào thì làm cho nổi kinh phong, sôi bọt mồm, nghiến răng, rồi nó mòn mỏi đi; tôi đã xin môn đồ thầy đuổi quỉ ấy, song đuổi không được.
18E abi erpei, a E darbor: E serur ge, a tereg ikupmaretili, a gem kerar: kaka emetu mara kaimeg giz detager, ko abi imuda; epe uiaba umer kak.
19Đức Chúa Jêsus bèn đáp rằng: Hỡi dòng dõi chẳng tin kia, ta sẽ ở cùng các ngươi cho đến chừng nào? Ta sẽ chịu các ngươi cho đến khi nào? Hãy đem con đến cho ta.
19E uiabi detaut, kega, Uaba nosik oatur kak, nade mop kaka uabi dog emerili? nade mop kaka uabi mabus? E karim tegaret.
20Chúng bèn đem đứa trẻ cho Ngài. Đứa trẻ vừa thấy Đức Chúa Jêsus, tức thì quỉ vật mạnh nó, nó ngã xuống đất, rồi lăn lóc sôi bọt miếng ra.
20Ui abim tegaret Iesuim; E abi dasmer, sobkak uit lamar abi darbor; a E sebge ekesmeri, a epeteli, a serur ge.
21Đức Chúa Jêsus hỏi cha nó rằng: Điều đó xảy đến cho nó đã bao lâu? Người cha thưa rằng: Từ khi nó còn nhỏ.
21Iesu abara aba itmer, kega, Na kerker abele lu abim tabarki? E detaut, kega, Ditimeda kebi uerem.
22Quỉ đã lắm phen quăng nó trong lửa và dưới nước, để giết nó đi; nhưng nếu thầy làm được việc gì, xin thương xót chúng tôi và giúp cho!
22Gaire kerker E abi ur ge batauered, a ko ni batauered, ueakai abi ipit eumilu: ese mama umele, ma keribi upinati, a keribi omare.
23Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Sao ngươi nói: Nếu thầy làm được? Kẻ nào tin thì mọi việc đều được cả.
23Iesu abi detager, kega, Ese mama umele! Gaire lu eseamuda umele abi abele le oituli
24Tức thì cha đứa trẻ la lên rằng: Tôi tin; xin Chúa giúp đỡ trong sự không tin của tôi!
24Sobkak abele uerem ra aba ereretikri, a ezoli detagereda, kega, Opole, kaka oituli, kara kebi oituli upinati.
25Khi Đức Chúa Jêsus thấy dân chúng chạy đến đông, thì Ngài quở trách tà ma và phán cùng nó rằng: Hỡi quỉ câm và điếc, ta biểu mầy phải ra khỏi đứa trẻ nầy, đừng ám nó nữa.
25Iesu gaire le lakub dasmer netat gedim koreder, E uit lamar daisumda, a abi detager, kega, Mama lamar te dabimdabim a grip batapili, kaka marim mer tigri, abielam toesmeda, a nole abi nerkep ge iako barot.
26Quỉ bèn la lớn tiếng lên, vật đứa trẻ mạnh lắm mà ra khỏi; đứa trẻ trở như chết vậy, nên nỗi nhiều người nói rằng: Nó chết rồi.
26E ereretikri, a abi darbor, a tosemeda; abele uerem mokakalam le eud; iueakai gaire le batagereda, kega, E dali eumida.
27Nhưng Đức Chúa Jêsus nắm tay nó, nâng lên; thì nó đứng dậy.
27Iesu abara tag datkimoartare, a abi tekuelu; E tababu tekue.
28Khi Đức Chúa Jêsus vào nhà rồi, môn đồ hỏi riêng Ngài rằng: Sao chúng tôi đuổi quỉ ấy không được?
28Iesu meta ge barot, abara kaimeg giz gumik abim eutumer, kega, Nalugem keriba umer kak abim imuare?
29Ngài đáp rằng: Nếu không cầu nguyện, thì chẳng ai đuổi thứ quỉ ấy ra được.
29E uiabi daratagereda, kega, Abele lu mokakalam nole tabarki, mamoro esorerapare, a leuer baili tepteb.
30Đoạn, đi khỏi đó, trải qua xứ Ga-li-lê, Đức Chúa Jêsus không muốn cho ai biết.
30Uiaba ab gedelam teosmeda, a eipu Galilaia nakaseredi; E nole lakak nerute le abi dasmer.
31Vì Ngài dạy các môn đồ rằng: Con người sẽ bị nộp trong tay người ta, họ sẽ giết đi; Ngài bị giết đã ba ngày rồi, thì sẽ sống lại.
31Iesu abara kaimeg giz ereuerem, a uiabi detagereda, kega, Le la Uerem ko emarida uiabim gaire le la tag, uiaba ko abi ipit eumilu; uiaba emetu abi ipit eumilu, E iako eded akaida keubu gerger thri.
32Nhưng môn đồ không hiểu lời ấy, lại sợ không dám hỏi Ngài.
32Epe uiaba nole akmer kak abele mer, ui geum ko abim eutumer.
33Đến thành Ca-bê-na-um, đang ở trong nhà, Ngài hỏi môn đồ rằng: Lúc đi đường, các ngươi nói chi với nhau?
33Uiaba Kaperanauma tabarki; E muige meta, E uiabim eutumer, kega, Nalu uaba gab ge basareda?
34Môn đồ đều làm thinh; vì dọc đường đã cãi nhau cho biết ai là lớn hơn trong bọn mình.
34Uiaba baziguar: abelelam uiaba gab ge basared, nete aule.
35Ngài bèn ngồi, kêu mười hai sứ đồ mà phán rằng: Nếu ai muốn làm đầu, thì phải làm rốt hết và làm tôi tớ mọi người.
35Iesu emri, a tuelf le dabgeri, a uiabi detagereda, kega, Ese nerute le laglag ko kekiam, E uiaba uridili sorge ekasered, a E uiabim uridili memeg le.
36Đoạn, Ngài bắt một đứa trẻ để ở giữa môn đồ; rồi ẵm nó trong tay, mà phán rằng:
36E nerute kebi uerem egaret, a abim ekueilu uiaba opem: a tag ge erpei, E uiabi detagereda, kega,
37Hễ ai vì danh ta tiếp một đứa trong những đứa trẻ nầy, tức là tiếp ta; còn ai tiếp ta, thì chẳng phải tiếp ta, bèn là tiếp Đấng đã sai ta vậy.
37Abele le nerute uerem mokakalam egaret, muige kara nei, E kari nagaret: a abele le kari nagaret, E nole kari nagaret tepteb, mamoro E dali kari namarida.
38Giăng thưa cùng Ngài rằng: Lạy thầy, chúng tôi từng thấy có người lấy danh thầy mà trừ quỉ, thì chúng tôi đã cấm, vì họ không theo chúng ta.
38Ioane abi detaut, kega, Kole ae, keriba nerute le erdali demoni giz imuda mara nei de: E nole meribi armili kak, ki emetu abi daisumda, abelelam E nole meribi irmili.
39Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đừng cấm làm chi; vì chẳng ai cùng trong một lúc, vừa nhân danh ta làm phép lạ, vừa nói xấu ta được.
39Epe Iesu detager, kega, Nole abi asiumdar kak; nole nerute le adigir ikeli, muige kara nei, ko sobkak kari nasauersili.
40Hễ ai không nghịch cùng ta là thuộc về ta.
40Abele le nole meribi dedkoli, E meribi kemem.
41Còn ai nhân danh ta mà cho các ngươi một chén nước, vì các ngươi thuộc về Đấng Christ, quả thật, ta nói cùng các ngươi, người ấy sẽ không mất phần thưởng mình đâu.
41Abele le ni sor uabi ikuar, abelelam uaba Keriso ra boai, ageakar, kaka uabi detagereda, nole ab kak bodomalam abim.
42Nhưng hễ ai làm cho một đứa trong những đứa nhỏ nầy đã tin, phải sa vào tội lỗi, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà bỏ xuống biển còn hơn.
42Ese nerute le dedkoli nerute kebile kari oituli, debele abim idid baker abara pereg didbare, a E gurim batimed.
43Nếu tay ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy chặt nó đi; thà rằng một tay mà vào sự sống, còn hơn đủ hai tay mà sa xuống địa ngục, trong lửa chẳng hề tắt.
43Ese mara tag mari nadkoli, ismi adem; debele ma ededem barot netate tag, a adud neis tag gena barot, abele ur asam kak:
44Đó là nơi sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết, và là nơi lửa chẳng hề tắt.
44Abele nole eud kak uiaba gegedar, a ur asam kak niaiem.
45Lại nếu chân ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy chặt nó đi; thà rằng què chân mà vào sự sống, còn hơn đủ hai chân mà bị quăng vào địa ngục.
45Ese mara teter mari nadkoli, ismi adem; debele ma ededem barot netate teter a adud neis teter genaim batauered, abele ur asam kak niaiem:
46Đó là nơi sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết, và là nơi lửa chẳng hề tắt.
46Abele nole eud kak uiaba gegedar, a ur asam kak niaiem.
47Còn nếu mắt ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy móc nó đi; thà rằng chỉ một mắt mà vào nước Đức Chúa Trời, còn hơn đủ hai mắt mà bị quăng vào địa ngục,
47Ese mara pone mari nadkoli, dikiamur; debele ma Ade ra baselaia barot a netate pone, adud neis pone gena ra ur batauered:
48đó là nơi sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết và là nơi lửa chẳng hề tắt.
48Abele nole eud kak uiaba gegedar, a ur asam kak niaiem.
49Vì mỗi người sẽ bị muối bằng lửa.
49Gaire le uridili ko sol ur de.
50Muối là vật tốt, nhưng nếu muối mất mặn đi, thì lấy chi làm cho mặn lại được? 9-51 Các ngươi phải có muối trong lòng mình, lại phải hòa thuận cùng nhau.
50Sol debe lu: ese nole kurabkurab, nako uaba iako kurabem? Uaba sol mamoro nagri muige uabi nerkep ge, uaba ko demeger nerute a nerute.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.