Mác 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
1Đức Chúa Jêsus lại khởi sự giảng dạy nơi bờ biển; có một đoàn dân đông lắm nhóm lại xung quanh Ngài, Ngài bước lên trong một chiếc thuyền và ngồi đó, còn cả đoàn dân thì ở trên đất nơi mé biển.
1Исус а ынчепут ярэшь сэ ынвеце пе нород лынгэ маре. Фииндкэ се адунасе фоарте мулт нород ла Ел, С-а суит ши а шезут ынтр-о корабие, пе маре; яр тот нородул стэтя пе цэрм лынгэ маре.
2Ngài lấy thí dụ dạy dỗ họ nhiều điều, và trong khi dạy, Ngài phán rằng:
2Апой а ынчепут сэ-й ынвеце мулте лукрурь ын пилде; ши, ын ынвэцэтура пе каре ле-о дэдя, ле спуня:
3Hãy nghe. Có người gieo giống đi ra đặng gieo.
3„Аскултаць! Ятэ, семэнэторул а ешит сэ семене.
4Khi đang gieo, một phần giống rơi dọc đường, chim đến ăn hết.
4Пе кынд семэна, о парте дин сэмынцэ а кэзут лынгэ друм: ау венит пэсэриле ши ау мынкат-о.
5Một phần khác rơi nhằm nơi đất đá sỏi, chỉ có ít đất thịt, tức thì mọc lên, vì bị lấp không sâu;
5О алтэ парте а кэзут пе ун лок стынкос, унде н-авя мулт пэмынт: а рэсэрит ындатэ, пентру кэ н-а дат де ун пэмынт адынк,
6nhưng khi mặt trời đã mọc, thì bị đốt, và bởi không có rễ, nên phải héo.
6дар, кынд а рэсэрит соареле, с-а пэлит ши, пентру кэ н-авя рэдэчинэ, с-а ускат.
7Một phần khác rơi nhằm bụi gai; gai mọc rậm lên làm cho nghẹt ngòi, và không kết quả.
7О алтэ парте а кэзут ынтре спинь: спиний ау крескут, ау ынекат-о ши н-а дат род.
8Một phần khác nữa rơi nhằm nơi đất tốt, thì kết quả, lớn lên và nẩy nở ra; một hột ra ba chục, hột khác sáu chục, hột khác một trăm.
8О алтэ парте а кэзут ын пэмынт бун: а датрод, каре се ынэлца ши крештя; ши ау адус уна трейзечь, алта шайзечь ши алта о сутэ.”
9Ngài lại phán rằng: Ai có tai mà nghe, hãy nghe.
9Апой а зис: „Чине аре урекь де аузит сэ аудэ.”
10Khi Đức Chúa Jêsus ở một mình, những kẻ xung quanh Ngài cùng mười hai sứ đồ hỏi Ngài về các lời thí dụ.
10Кынд а фост сингур, чей че ерау ын журул Луй, ымпреунэ ку чей дойспрезече, Л-ау ынтребат деспре пилде.
11Ngài phán rằng: Sự mầu nhiệm của nước Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho các ngươi; nhưng về phần người ngoài, thì dùng cách thí dụ để dạy mọi sự,
11„Воуэ” , ле-а зис Ел, „в-а фост дат сэ куноаштець тайна Ымпэрэцией луй Думнезеу, дар пентру чей чесунт афарэ дин нумэрул востру, тоате лукруриле сунт ынфэцишате ын пилде,
12hầu cho họ xem thì xem mà không thấy, nghe thì nghe mà không hiểu; e họ hối cải mà được tha tội chăng.
12пентру ка, мэкар кэ привеск, сэ привяскэ ши сэ ну вадэ ши, мэкар кэ ауд, сэ аудэ ши сэ ну ынцелягэ, ка ну кумва сэ се ынтоаркэ ла Думнезеу ши сэ ли се ерте пэкателе.”
13Đoạn, Ngài phán rằng: Các ngươi không hiểu thí dụ ấy sao? Vậy thì thế nào hiểu mọi thí dụ được?
13Ел ле-а май зис: „Ну ынцелеӂець пилда ачаста? Кум вець ынцелеӂе атунч тоате челелалте пилде?
14Người gieo giống ấy là gieo đạo.
14Семэнэторулсямэнэ Кувынтул.
15Những kẻ ở dọc đường là kẻ đã chịu đạo gieo nơi mình; nhưng vừa mới nghe đạo, tức thì quỉ Sa-tan đến, cướp lấy đạo đã gieo trong lòng họ đi.
15Чей ынфэцишаць прин сэмынца кэзутэ лынгэ друм сунт ачея ын каре есте семэнат Кувынтул, дар, дупэ че л-ау аузит, вине Сатана ындатэ ши я Кувынтул семэнат ын ей.
16Cũng vậy, những người chịu giống gieo nơi đất đá sỏi, là những kẻ nghe đạo, liền vui mừng chịu lấy;
16Тот аша, чей ынфэцишаць прин сэмынца кэзутэ ын локуриле стынкоасе сунт ачея каре, кынд ауд Кувынтул, ыл примеск ындатэ ку букурие,
17song vì trong lòng họ không có rễ, chỉ tạm thời mà thôi, nên nỗi gặp khi vì cớ đạo mà xảy ra sự cực khổ, bắt bớ, thì liền vấp phạm.
17дар н-ау рэдэчинэ ын ей, чи цин пынэ ла о време ши, кум вине ун неказ сау о пригонире дин причина Кувынтулуй, се ляпэдэ ындатэ де ел.
18Còn những kẻ chịu giống gieo nơi bụi gai, là kẻ đã nghe đạo;
18Алций сунт чей ынфэцишаць прин сэмынца кэзутэ ынтре спинь; ачештя сунт чей че ауд Кувынтул,
19song sự lo lắng về đời nầy, sự mê đắm về giàu sang, và các sự tham muốn khác thấu vào lòng họ, làm cho nghẹt ngòi đạo, và trở nên không trái.
19дар нэвэлеск ын ей грижиле лумий, ыншелэчунябогэциилор ши пофтеле алтор лукрурь, каре ынякэ Кувынтул ши-л фак астфел неродитор.
20Nhưng, những người chịu giống gieo vào nơi đất tốt, là kẻ nghe đạo, chịu lấy và kết quả, một hột ra ba chục, hột khác sáu chục, hột khác một trăm.
20Алций, апой, сунт ынфэцишаць прин сэмынца кэзутэ ын пэмынт бун. Ачештя сунт чей че ауд Кувынтул, ыл примеск ши фак род: унул трейзечь, алтул шайзечь ши алтул о сутэ.”
21Ngài lại phán cùng họ rằng: Có ai đem đèn để dưới cái thùng hoặc dưới cái giường chăng? Há chẳng phải để trên chân đèn sao?
21Ел ле-а май зис: „Оаре лумина есте адусэ ка сэ фие пусэ суб баницэ сау суб пат? Ну есте адусэ ка сэ фие пусэ ын сфешник?
22Vì chẳng có điều chi kín mà không phải lộ ra, chẳng có điều chi giấu mà không phải rõ ràng.
22Кэчну есте нимик аскунс каре ну ва фи дескоперит ши нимик тэйнуит каре ну ва еши ла луминэ.
23Nếu ai có tai mà nghe, hãy nghe!
23Дакэаре чинева урекь де аузит, сэ аудэ.”
24Ngài lại phán rằng: Hãy cẩn thận về điều mình nghe. Người ta sẽ đong cho các ngươi bằng lường các ngươi đã đong cho, và thêm vào đó nữa.
24Ел ле-а май зис: „Луаць сяма ла че аузиць. Куче мэсурэ вець мэсура, ви се ва мэсура ши ви се ва да ши май мулт.
25Vì sẽ ban thêm cho kẻ nào có; nhưng kẻ nào không có, sẽ bị cất lấy điều mình đã có.
25Кэч, челуй че аре, и се ва да; дар, де ла чел че н-аре, се ва луа ши че аре.”
26Ngài lại phán rằng: Nước Đức Chúa Trời cũng như một người vải giống xuống đất;
26Ел а май зис: „КуЫмпэрэция луй Думнезеу есте ка атунч кынд арункэ ун ом сэмынца ын пэмынт;
27người ngủ hay dậy, đêm và ngày, giống cứ nẩy chồi mọc lên, mà người không biết thể nào.
27фие кэ доарме ноаптя, фие кэ стэ тряз зиуа, сэмынца ынколцеште ши креште фэрэ сэ штие ел кум.
28Vì đất tự sanh ra hoa lợi: ban đầu là cây, kế đến bông, đoạn bông kết thành hột.
28Пэмынтул родеште сингур: ынтый ун фир верде, апой спик, дупэ ачея грыу деплин ын спик
29Khi hột đã chín, người ta liền tra lưỡi hái vào, vì mùa gặt đã đến.
29ши, кынд есте копт родул, пунеындатэ сечера ын ел, пентру кэ а венит сечеришул.”
30Ngài lại phán rằng: Chúng ta sánh nước Đức Chúa Trời với chi, hay lấy thí dụ nào mà tỏ ra?
30Ел а май зис: „Куче вом асемэна Ымпэрэция луй Думнезеу, сау прин че пилдэ о вом ынфэциша?
31Nước ấy giống như một hột cải: khi người ta gieo, nó nhỏ hơn hết các hột giống trên đất;
31Се асямэнэ ку ун грэунте де муштар, каре, кынд есте семэнат ын пэмынт, есте чя май микэ динтре тоате семинцеле де пе пэмынт,
32song khi gieo rồi, nó mọc lên, trở lớn hơn mọi thứ rau, và nứt ra nhành lớn, đến nỗi chim trời núp dưới bóng nó được.
32дар, дупэ че а фост семэнат, креште ши се фаче май маре декыт тоате зарзаватуриле ши фаче рамурь марь, аша кэ пэсэриле черулуй ышь пот фаче куйбурь ла умбра луй.”
33Aáy bởi nhiều lời thí dụ như cách ấy mà Ngài giảng đạo cho họ, tùy theo sức họ nghe được.
33Исус ле вестя Кувынтул прин мулте пилде де фелул ачеста, дупэ кум ерау ей ын старе сэ-Л причяпэ.
34Ngài chẳng hề giảng cho chúng mà không dùng thí dụ; nhưng, khi ở riêng, Ngài cắt nghĩa hết cho môn đồ mình.
34Ну ле ворбя делок фэрэ пилдэ, дар, кынд ера сингур ла о парте, лэмуря ученичилор Сэй тоате лукруриле.
35Đến chiều ngày ấy, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy qua bờ bên kia.
35Ын ачеяшь зи, сяра, Исус ле-а зис: „Сэ тречем ын партя чялалтэ.”
36Khi cho dân chúng tan về rồi, Đức Chúa Jêsus cứ ở trong thuyền, và môn đồ đưa Ngài đi; cũng có các thuyền khác cùng đi nữa.
36Дупэ че ау дат друмул нородулуй, ученичий Л-ау луат ын корабия ын каре Се афла ши аша кум ера. Ымпреунэ ку Ел май ерау ши алте корэбий.
37Vả, có cơn bão lớn nổi lên, sóng tạt vào thuyền, đến nỗi gần đầy nước;
37С-а стырнит о маре фуртунэ де вынт, каре арунка валуриле ын корабие, аша кэ май кэ се умпля корабия.
38nhưng Ngài đang ở đằng sau lái, dựa gối mà ngủ. Môn đồ thức Ngài dậy mà thưa rằng: Thầy ôi, thầy không lo chúng ta chết sao?
38Ши Ел дормя ла кырмэ, пе кэпэтый. Ученичий Л-ау дештептат ши Й-ау зис: „Ынвэцэторуле, ну-Ць пасэ кэ перим?”
39Ngài bèn thức dậy, quở gió và phán cùng biển rằng: Hãy êm đi, lặng đi! Gió liền dứt và đều yên lặng như tờ.
39Ел С-а скулат, а чертат вынтул ши а зис мэрий: „Тачь! Фэрэ гурэ!” Вынтул а стат ши с-а фэкут о линиште маре.
40Đoạn, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi sợ? Chưa có đức tin sao?
40Апой ле-а зис: „Пентру че сунтець аша де фрикошь? Тот н-авець крединцэ?”
41Môn đồ kinh hãi lắm, nói với nhau rằng: Vậy thì người nầy là ai, mà gió và biển cũng đều vâng lịnh người?
41Й-а апукат о маре фрикэ ши зичяу уний кэтре алций: „Чине есте Ачеста де Ыл аскултэ кяр ши вынтул, ши маря?”
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.