Mác 15
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Vừa lúc ban mai, các thầy tế lễ cả bàn luận với các trưởng lão, các thầy thông giáo cùng cả tòa công luận; khi đã trói Đức Chúa Jêsus rồi, thì giải nộp cho Phi-lát.
1І зараз уранцї, порадившись архиєреї з старшими та письменниками, і вся рада, звязавши Ісуса, повели та й видали Пилатові.
2Phi-lát hỏi Ngài rằng: Aáy chính ngươi là Vua dân Giu-đa phải không? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời.
2І спитав Його Пилат: Чи ти єси цар Жидівський? Він же озвавшись, рече йому: Ти кажеш.
3Các thầy tế lễ cả cáo Ngài nhiều điều.
3І винуватили Його архиєреї багато.
4Phi-lát lại tra gạn Ngài, mà rằng: Ngươi chẳng đối đáp chi hết sao? Hãy coi họ cáo tội ngươi biết bao nhiêu!
4Пилат же знов спитав Його, кажучи: Не відказуєш нїчого? Он, скільки на Тебе сьвідкують;
5Nhưng Đức Chúa Jêsus chẳng trả lời chi nữa, nên nỗi Phi-lát lấy làm lạ.
5Ісус же більш нїчого не відказав, так що дивував ся Пилат.
6Vả, hễ đến ngày lễ Vượt Qua, quan vốn quen thói tha cho dân một tên tù, tùy theo dân xin.
6На сьвято ж відпускав він їм одного вязника, про которого просили.
7Bấy giờ có một đứa tên là Ba-ra-ba bị tù với kẻ làm loạn, vì trong khi nổi loạn, chúng nó phạm tội giết người.
7Був же названий Варава з своїми затязцями увязнений, котрі під бунт убийство зробили.
8Đoàn dân đã lên, bèn xin Phi-lát làm cho mình theo như lệ thường.
8І гукаючи народ, почав просити, щоб, як що-разу, зробив їм.
9Phi-lát trả lời rằng: Các ngươi muốn ta tha Vua dân Giu-đa cho chăng?
9Пилат же відказав їм, говорячи: Чи хочете, щоб випустив вам царя Жидівського?
10Vì người biết rõ các thầy tế lễ cả đã nộp Ngài bởi lòng ghen ghét.
10Знав бо, що через зависть видали Його архиєреї.
11Nhưng các thầy tế lễ cả xui dân xin người tha tên Ba-ra-ba cho mình thì hơn.
11Архиєреї ж наустили народ, щоб лучче Вараву відпустив їм.
12Phi-lát lại cất tiếng hỏi rằng: Vậy thì các ngươi muốn ta dùng cách nào xử người mà các ngươi gọi là Vua dân Giu-đa?
12Пилат же, озвавшись ізнов, сказав їм: Що ж оце хочете, щоб зробив із тим, кого звете царем Жидівським?
13Chúng lại kêu lên rằng: Hãy đóng đinh nó vào thập tự giá!
13Вони ж знов закричали: Розпни Його.
14Phi-lát nói cùng chúng rằng: Song người nầy đã làm điều ác gì? Chúng lại kêu lớn tiếng hơn rằng: Hãy đóng đinh nó vào thập tự giá!
14Пилат же каже їм: Яке ж бо зло зробив? Вони ж ще гірш кричали: Розпни Його.
15Phi-lát muốn cho đẹp lòng dân, bèn tha tên Ba-ra-ba; và sai đánh đòn Đức Chúa Jêsus, rồi giao Ngài cho chúng đem đóng đinh trên cây thập tự.
15Пилат же, хотївши народові догодити, відпустив їм Вараву, й передав Ісуса, побивши, щоб розпято Його.
16Lính điệu Đức Chúa Jêsus vào sân trong, tức là trong chỗ trường án; và nhóm cả cơ binh lại đó.
16Воїни ж повели Його в середину двору, чи то в Претор, і скликали всю роту.
17Họ choàng cho Ngài một cái áo điều, và đội trên đầu Ngài một cái mão bằng gai họ đã đương,
17І одягли Його в багряницю, і положили на Него, сплївши з тернини, вінець,
18rồi chào Ngài rằng: Kính lạy Vua dân Giu-đa!
18та й почали витати Його: Радуй ся, царю Жидівський!
19Lại lấy cây sậy đánh đầu Ngài, nhổ trên Ngài, và quì xuống trước mặt Ngài mà lạy.
19І били Його по голові тростиною, і плювали на Него, й, кидаючись на колїна, кланялись Йому.
20Khi họ đã nhạo cười Ngài như vậy rồi, thì cổi áo điều ra, mặc áo của Ngài lại cho Ngài, và đem ra để đóng đinh trên cây thập tự.
20І, як насьміялись із Него, роздягнули Його з багряницї, і одягнули Його в одежу Його, та й виводять Його, щоб розпяти Його.
21Có một tên Si-môn kia, người thành Sy-ren, là cha A-léc-xan-đơ và Ru-phu, ở ngoài ruộng về, đi ngang qua đó; họ bắt phải vác cây thập tự.
21І заставили мимойдучого якогось Симона Киринея, ідучого з поля, батька Александра та Руфа, щоб нїс хрест Його.
22Họ đem Đức Chúa Jêsus đến nơi kia, gọi là Gô-gô-tha, nghĩa là chỗ Sọ.
22І приводять Його на Голготу місце, що прозване Черепове місце.
23Họ cho Ngài uống rượu hòa với một dược; song Ngài không uống.
23І дали Йому пити вина з смирною; Він же не прийняв.
24Khi đóng đinh Ngài trên cây thập tự rồi, họ chia áo xống Ngài cho nhau, bắt thăm để biết ai được gì.
24І розпинателї Його подїлили одежу Його, кинувши жереб на неї, що кому впаде.
25Lúc đóng đinh Ngài, là giờ thứ ba.
25Була ж година третя, і розпяли Його.
26Aùn Ngài có ghi vào cái bảng rằng: Vua dân Giu-đa.
26І була надпись вини Його надписана: Цар Жидівський.
27Cũng có hai đứa ăn cướp bị đóng đinh với Ngài, một đứa tại cây thập tự bên hữu Ngài, một đứa tại cây thập tự bên tả.
27І розпяли з Ним двох розбійників, одного по правицї, а одного по лївицї в Него.
28Như vậy được ứng nghiệm lời Kinh Thánh rằng: Ngài đã bị kể vào hàng kẻ dữ.
28І справдилось писаннє, що глаголе: І з беззаконними полїчено Його.
29Những kẻ đi ngang qua đó chế báng Ngài, lắc đầu mà nói rằng: Ê! ngươi là kẻ phá đền thờ, và cất lại trong ba ngày,
29І мимоходячі хулили Його, киваючи головами своїми та говорячи: Овва! Ти, що руйнуєш церкву і в три днї будуєш,
30hãy cứu lấy mình, xuống khỏi cây thập tự đi!
30спаси себе й зійди з хреста.
31Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo cũng nói với nhau như vậy, mà nhạo cười Ngài rằng: Hắn đã cứu kẻ khác; mà cứu mình không được!
31Так само й архиєреї, насьміхаючись один до одного з письменниками, казали: Инших спасав, себе не може спасти.
32Hỡi Đấng Christ, Vua dân Y-sơ-ra-ên, bây giờ hãy xuống khỏi cây thập tự, để cho chúng ta thấy và tin! Hai đứa bị đóng đinh cùng Ngài cũng nhiếc móc Ngài nữa.
32Христос, цар Жидівський, нехай зійде тепер з хреста, щоб побачили ми, й увіруємо. І розпяті з Ним зневажали Його.
33Đến giờ thứ sáu, khắp đất đều tối tăm mù mịt cho tới giờ thứ chín.
33Як же настала година шеста, темрява стала по всїй землї аж до години девятої.
34Đến giờ thứ chín, Đức Chúa Jêsus kêu lớn tiếng rằng: Ê-lô-i, Ê-lô-i, lam-ma-sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi, Đức Chúa Trời tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi?
34А години девятої покликнув Ісус голосом великим: Елоі, Елоі, лама саватани? що єсть перекладом: Боже мій, Боже мій, на що мене покинув єси?
35Có mấy người đứng đó nghe vậy, thì nói rằng: Coi kìa, hắn kêu Ê-li.
35І деякі з тих, що тут стояли, почувши казали: Ось Ілию кличе.
36Có một người trong bọn họ chạy lấy bông đá thấm đầy giấm, để trên đầu cây sậy, đưa cho Ngài uống, mà nói rằng: Hãy để, chúng ta coi thử Ê-li có đến đem hắn xuống chăng!
36Побігши ж один і сповнивши губку оцтом, і настромивши на тростину, поїв Його, кажучи: Стривайте, побачимо, чи прийде Ілия зняти Його.
37Nhưng Đức Chúa Jêsus kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.
37Ісус же, пустивши голос великий, зітхнув.
38Màn trong đền thờ xé ra làm đôi từ trên chí dưới.
38І завіса церковня роздерлась надвоє з верху аж до низу.
39Thầy đội đứng đối ngang Ngài, thấy Ngài trút linh hồn như vậy, thì nói rằng: Người nầy quả thật là Con Đức Chúa Trời.
39Бачивши ж сотник, що там стояв проти Него, що, так закричавши, зітхнув, каже: Справдї чоловік сей Син був Божий.
40Lại có những đàn bà đứng xa xa mà xem. Trong số ấy có Ma-ri, Ma-đơ-len, Ma-ri là mẹ Gia-cơ nhỏ, và Giô-sê, cùng Sa-lô-mê,
40Були ж і жінки, оддалеки дивлячись, між котрими була й Мария Магдалина, й Мария, Якова меншого та Йосиї мати, й Саломия,
41là ba người đã theo hầu việc Ngài khi Ngài ở xứ Ga-li-lê; cũng có nhiều đàn bà khác nữa, là những người đã theo Ngài lên thành Giê-ru-sa-lem.
41що, й як був у Галилеї, ходили слїдом за Ним, і послугували Йому, і инших багато, що поприходили з Ним у Єрусалим.
42Bấy giờ là ngày sắm sửa, nghĩa là hôm trước ngày Sa-bát; khi đã chiều tối,
42А як уже настав вечір, бо була пятниця, чи то перед суботою,
43có một người tên là Giô-sép, ỳ thành A-ri-ma-thê, là nghị viên tòa công luận có danh vọng, cũng trông đợi nước Đức Chúa Trời. Người bạo gan đến Phi-lát mà xin xác Đức Chúa Jêsus.
43прийшов Йосиф з Ариматеї, поважний радник, що також сподївавсь царства Божого, й зосьмілившись, увійшов до Пилата й просив тїла Ісусового.
44Phi-lát lấy làm lạ về Ngài chết mau như vậy, bèn đòi thầy đội đến mà hỏi thử Ngài chết đã lâu chưa.
44Пилат же дивувавсь, що вже вмер би; й покликавши сотника, спитав його, чи давно вмер.
45Vừa nghe tin thầy đội trình, thì giao xác cho Giô-sép.
45А довідавшись од сотника, дав тїло Йосифові.
46Người đã mua vải liệm, cất xác Đức Chúa Jêsus xuống khỏi cây thập tự, dùng vải liệm vấn lấy Ngài, rồi để xác trong huyệt đã đục trong hòn đá lớn, đoạn, lăn một hòn đá chận cửa huyệt lại.
46І, купивши плащеницю і знявши Його, обгорнув Його плащеницею, та й положив Його у гробі, що був висїчений із скелї, та й прикотив каменя до дверей гробу.
47Vả, Ma-ri Ma-đơ-len cùng Ma-ri mẹ Giô-sê, đều thấy chỗ táng Ngài.
47Мария ж Магдалина й Мария Йосиїна дивились, де Його положено.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.