Giáo 7
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Danh tiếng hơn dầu quí giá; ngày chết hơn ngày sanh.
1Добра слава лучша над пахущі мастї, а день смертї лучше родин.
2Đi đến nhà tang chế hơn là đến nhà yến tiệc; vì tại đó thấy sự cuối cùng của mọi người; và người sống để vào lòng.
2Лучше йти в дім, де плачуть, нїж у такий, де бенкетують; усї бо люде так закінчують, а живущий прийме се до серця.
3Buồn rầu hơn vui vẻ; vì nhờ mặt buồn, lòng được vui.
3Сумуваннє лучше сьміху; бо в смутку стає серце лїпшим.
4Lòng người khôn ngoan ở trong nhà tang chế, còn lòng kẻ ngu muội ở tại nhà vui sướng.
4Серце мудрих — у сумному дому, а серце дурних — у веселому.
5Thà nghe lời quở trách của người khôn ngoan, còn hơn là câu hát của kẻ ngu muội.
5Лучше слухати докір од мудрого, нїж піснї дурних;
6Vì tiếng cười của kẻ ngu muội giống như tiếng gai nhọn nổ dưới nồi. Điều đó cũng là sự hư không.
6Бо реготаннє дурневе — се тріск тернини під казаном. Се теж марнота.
7Phải, sự sách thủ tiền tài làm cho kẻ khôn ra ngu, và của hối lộ khiến cho hư hại lòng.
7Коли мудрий тїснить других, — стається дурним, та й подарунки псують серце.
8Cuối cùng của một việc hơn sự khởi đầu nó; lòng kiên nhẫn hơn lòng kiêu ngạo.
8Кінець справи лучше початку, а покірний лучше такого, що високо несеться.
9Chớ vội giận; vì sự giận ở trong lòng kẻ ngu muội.
9Не давай духу хутко в гнїв попадати, гнїв бо в серцї в дурних гнїздиться.
10Chớ nói rằng: Nhân sao ngày trước tốt hơn ngày bây giờ? Vì hỏi vậy là chẳng khôn.
10Не кажи: Чому то давні часи були лучші теперешніх? бо не мудрість надихає тебе сим питаннєм.
11Sự khôn ngoan cũng tốt bằng cơ nghiệp; nó có ích cho những người thấy mặt trời.
11Мудрість із достатком — річ добра, іменно же про тих, що бачать сонце;
12Vì sự khôn ngoan che thân cũng như tiền bạc che thân vậy; nhưng sự khôn ngoan thắng hơn, vì nó giữ mạng sống cho người nào đã được nó.
12Бо під її захистом так, як під захистом гроша; та знаннє переважує ще тим, що мудрість дає життє тому, в кого вона є.
13Hãy xem xét công việc của Đức Chúa Trời; vì vật gì Ngài đã đánh cong, ai có thể làm ngay lại được?
13Приглядайсь управі Божій; бо хто б те випростав, що він скривив?
14Trong ngày thới thạnh hãy vui mừng, trong ngày tai nạn hãy coi chừng; vì Đức Chúa Trời đặt ngày nầy đối với ngày kia, hầu cho người đời chẳng thấy trước đặng điều xảy ra sau mình.
14У днї щасливі заживай добра, а в днї нещасливі — розумуй: Бог так само сотворив сей, як і той, щоб чоловік нїчого не міг проти його сказати.
15Trong những ngày hư không của ta, ta đã thấy cả điều nầy: Người công bình tuy công bình cũng phải hư mất; và kẻ hung ác tuy hung ác lại được trường thọ.
15На все надививсь я за днїв марного життя мого, й на се, що праведний гине в своїй праведностї, а безбожний живе довго в безбожностї своїй;
16Chớ công bình quá, cũng đừng làm ra mình khôn ngoan quá; cớ sao làm thiệt hại cho mình?
16Та ти не будь надто строгим і не показуй себе мудрим над міру: чому тобі себе губити?
17Cũng chớ nên hung hăng quá, và đừng ăn ở như kẻ ngu muội; cớ sao ngươi chết trước k” định?
17Не бувай надто грішним і безумним; чому бо тобі вмірати не свого часу?
18Ngươi giữ được điều nầy, ấy là tốt; mà lại cũng đừng nới tay khỏi điều kia; vì ai kính sợ Đức Chúa Trời ắt tránh khỏi mọi điều đó.
18Добре чинити меш, придержуючись одного й не занедбуючи другого: хто боїться Бога, той уйде всього того.
19Sự khôn ngoan khiến cho người khôn có sức mạnh hơn là mười kẻ cai trị ở trong thành.
19Мудрість дає мудрому більше сили, нїж у десятьох старшин у городї.
20Thật, chẳng có người công bình ở trên đất làm điều thiện, mà không hề phạm tội.
20Нема на сьвітї такого праведного чоловіка, щоб чинив добро, нїколи не грішивши;
21Chớ để lòng về mọi lời người ta nói, e ngươi nghe kẻ tôi tớ mình chưởi rủa mình chăng.
21Тим то не на кожне слово зважай, що говорять, щоб не почути тобі часом, як твій власний слуга тобі лихословить;
22Vì thường khi lòng ngươi cũng biết mình đã rủa kẻ khác.
22Твоя бо совість мусить сказати тобі, що й ти нераз лихословив другим.
23Ta đã lấy sự khôn ngoan nghiệm xét mọi sự ấy; ta nói rằng: Ta sẽ ở khôn ngoan; nhưng sự khôn ngoan cách xa ta.
23Усе це розбірав я по мудрому; я бо сказав собі: Хочу бути мудрий; та мудрість далеко від мене.
24Vả, điều chi xa quá, điều chi sâu thẩm lắm, ai có thế tìm được?
24Далеко все, і глибоко, так глибоко! хто дослїдить?
25Ta lại hết lòng chuyên lo cho hiểu biết, xét nét, kiếm tìm sự khôn ngoan và chánh lý muôn vật, lại cho biết rằng gian ác là dại dột và sự dại dột là điên cuồng.
25Я звернув серце моє на се, щоб розізнати, вислїдити та розиськати мудрість і розум, і пізнати погань дурноти, незнання та безумностї, —
26Ta tìm thấy một điều cay đắng hơn sự chết, ấy là một người đờn bà có lòng giống như lưới bẫy, tay tợ như dây tói: ai ở đẹp lòng Đức Chúa Trời sẽ thoát khỏi nó; còn kẻ có tội sẽ bị nó vấn lấy.
26І дознався, що гірше, нїж смерть — се женщина, бо вона — сїть; серце в неї капкани, а руки — ланцюги. Хто добрий перед Богом, — урятуєсь від неї, а грішник спіймається нею.
27Kẻ truyền đạo nói: Sau khi xem xét muôn sự từng điều từng vật, đặng tìm chánh lý, thì nầy là điều ta tìm được;
27От що я знайшов, каже проповідник, розвідуючи одно за одним!
28ấy là lòng ta hãy còn tìm mà chưa tìm ra: trong một ngàn người đờn ông ta đã tìm được một người; còn trong cả thảy người đờn bà ta chẳng tìm được một ai hết.
28А ще чого шукала душа моя, а я не знайшов? Знайшов я одного мужчину між тисячею, женщини ж нї однієї.
29Nhưng nầy là điều ta tìm được: Đức Chúa Trời đã dựng nên người ngay thẳng; song loài người có tìm kiếm ra lắm mưu kế.
29Тільки се я знайшов, що Бог сотворив чоловіка правим, та люде пустились на всякі вигади.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.