Giáo
Chapter 9
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Kulish and Puluj B…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Nầy là các việc khác mà ta đã suy nghĩ và chuyên lòng hiểu rõ ràng: ta thấy người công bình và khôn ngoan, luôn với việc làm của họ, đều ở trong tay Đức Chúa Trời; hoặc sự yêu hay là sự ghét, loài người chẳng biết rõ: thảy đều thuộc về cuộc tương lai.
1На все те обернув я серце моє, щоб зрозуміти, що праведні й мудрі й дїла їх у Бога в руцї, та що чоловік нї любови нї ненавистї за те не знає, бо воно далеко перед ним.
2Mọi sự xảy đến cho mọi người như nhau: người công bình hay là kẻ hung ác, người hiền lành, thanh sạch, hay là người không thanh sạch, người dâng của tế lễ hay là người không dâng, người thiện hay là kẻ có tội, kẻ phát thề hay là người sợ lời thề, cả thảy đều đồng hưởng một số phận.
2Усьому й усїм — одно: однака доля праведному й безбожному, доброму й злому, чистому й нечистому; тому, що приносить жертви, й тому, що не приносить жертви; честивому, як і грішникові; тому, хто клянеться, як і тому, хто совіститься клястись.
3Tai nạn lớn hơn dưới mặt trời, ấy là mọi người đồng gặp một số phận, lòng loài người đầy dẫy sự hung ác, và sự điên cuồng choán trong lòng họ đương khi sống, rồi họ đi về cùng kẻ chết.
3Се ж то й біда в усьому, що дїється під сонцем, що доля однака всїм; тим то й серце в людей повне злостї, й безум у серцї їх, поки живота їх, а потім прилучуються до мертвих.
4Một người ở trong hội kẻ sống, còn có sự trông mong; vì con chó sống hơn là sư tử chết.
4Поки людина в живих, має ще надїю; тим, що живому собацї лучше, нїж мертвому леву;
5Kẻ sống biết mình sẽ chết; nhưng kẻ chết chẳng biết chi hết, chẳng được phần thưởng gì hết; vì sự kỷ niệm họ đã bị quên đi.
5Бо живі знають, що помруть, а мертві нїчогісїнько не тямлять, і нема їм уже заплати, бо й память про них пішла в забуток;
6Sự yêu, sự ghét, sự ganh gỗ của họ thảy đều tiêu mất từ lâu; họ chẳng hề còn có phần nào về mọi điều làm ra dưới mặt trời.
6І любов їх і ненависть і боротьба їх минулись, і не буде їм вже нїякої частини нї в чому, що дїється під сонцем.
7Hãy đi ăn bánh cách vui mừng, và uống rượu cách hớn hở; vì Đức Chúa Trời đã nhận các công việc ngươi.
7Ійди ж, їж твій хлїб, радуючись, і пий твоє вино, веселючись, коли Бог ласкавий на дїла твої.
8Khá hằng mặc áo trắng, chớ thiếu dầu thơm trên đầu ngươi.
8Нехай повсячасно буде на тобі одежа сьвітла, й нехай волос твій буде намащений.
9Trọn các ngày của đời hư không ngươi, mà Đức Chúa Trời ban cho ngươi dưới mặt trời, hãy ở vui vẻ cùng vợ mình yêu dấu; vì đó là phần của ngươi trong đời nầy, và là điều ngươi được bởi công lao mình làm ở dưới mặt trời.
9Усолоджуй собі життє з жінкою твоєю, що її любиш, через усї днї марної жизнї твоєї, а котру дав тобі Бог за товаришку на всї швидколетні днї твої під сонцем; се бо — пай твій в життю й в трудах твоїх, що ти трудишся під сонцем.
10Mọi việc tay ngươi làm được, hãy làm hết sức mình; vì dưới âm phủ, là nơi ngươi đi đến, chẳng có việc làm, chẳng có mưu kế, cũng chẳng có tri thức, hay là sự khôn ngoan.
10Все, що маєш снагу робити, роби руками твоїми; бо в могилї, куди ти йдеш, нема вже роботи, нї роздумовання, нї знання, нї мудростї.
11Ta xây lại thấy dưới mặt trời có kẻ lẹ làng chẳng được cuộc chạy đua, người mạnh sức chẳng được thắng trận, kẻ khôn ngoan không đặng bánh, kẻ thông sáng chẳng hưởng của cải, và người khôn khéo chẳng được ơn; vì thời thế và cơ hội xảy đến cho mọi người.
11І звернувсь я й добачив під сонцем, що не швидким допадаєсь нагорода за побіг; не хоробрим — побіда; не мудрим — хлїб; не розумним — багацтво, й не тямущим — ласка, тільки час і случай у всїм.
12Lại, loài người chẳng hiểu biết thời thế của mình: như cá mắc lưới, chim phải bẫy dò thể nào, thì loài người cũng bị vấn vương trong thời tai họa xảy đến thình lình thể ấy.
12Бо людина свого часу навіть не знає. Як риба попадається в невід, а птиця запутуєсь у сильце, так і люде ловляться в лиху годину, як вона прийде негадано до них.
13Ta cũng đã thấy sự khôn ngoan nầy dưới mặt trời, thật lấy làm cả thể.
13От іще яку бачив я мудрість під сонцем, а вона здалась менї не абиякою:
14Có thành nhỏ kia được một ít dân sự, một vua cường thạnh đến vây hãm nó, đắp những lũy cao lớn cùng nó.
14Було невеличке собі місто, та й не так то людне. Прийшов під його великий царь, облїг його, та й поробив проти його всї боєві прилади;
15Vả, trong thành ấy có một người nghèo mà khôn, dùng sự khôn ngoan mình giải cứu thành ấy; song về sau không ai nhớ đến người nghèo đó.
15Аж се знайшовся в йому чоловік нетяга розумний та й вирятував городець своїм розумом, а нїхто потім не споминав про сього біднягу.
16Ta bèn nói rằng: Sự khôn ngoan hơn sức mạnh; nhưng mà sự khôn ngoan của người nghèo bị khinh dể, và lời nói của người không ai nghe.
16І сказав я: Розум лучше сили, та розумом у чоловіка бідного погорджують і слова його байдуже.
17Lời của người khôn ngoan được nghe tại nơi êm lặng còn hơn tiếng kêu la của kẻ cai trị trong đám dại dột.
17Слово тихе й розумне, як його послухають, переважує крик потужного між дурними.
18Sự khôn ngoan hơn đồ binh khí; nhưng chỉ một người có tội phá hủy được nhiều sự lành.
18Розум лучше військового знаряддя, та одно ледащо попсує часом багацько доброго.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.