Giáo
Chapter 2
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Kulish and Puluj B…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Ta lại nói trong lòng rằng: Hè! hãy thử điều vui sướng và nếm sự khoái lạc: kìa, điều đó cũng là sự hư không.
1От і кажу собі в серцї: Дам я тобі покушати радощів, — заживай добра! Аж і се марнота.
2Ta nói: Cười là điên; vui sướng mà làm chi?
2Про сьміх сказав я: Дурниця! а про радощі: Що з вас?
3Ta nghĩ trong lòng rằng phải uống rượu để cho thân mình vui sướng, mà sự khôn ngoan vẫn còn dẫn dắt lòng ta, lại nghĩ phải cầm lấy sự điên dại cho đến khi xem thử điều gì là tốt hơn cho con loài người làm ở dưới trời trọn đời mình sống.
3Подумавши, давай я, підвеселяти себе вином, і, ходючи слїдом за премудростю, придержуватись і сієї дурницї, аж докіль побачу, що гаразд для синів людських, що повинні б вони робити під небом, живучи так недовго на сьвітї.
4Ta làm những công việc cả thể; ta cất nhà cho mình, trồng vườn nho cho mình,
4Брався я за великі працї: будував будинки, насаджував виноградники,
5lập cho mình vườn cây trái và vườn hoa, và trồng cây trái đủ thứ ở đó;
5Заводив собі сади й огороди до прогульки, й насадив у них всяке дерево плодове;
6ta đào hồ chứa nước đặng tưới rừng, là nơi cây cối lớn lên.
6Я робив стави — поливати дерева, що росли в гаях у мене;
7Ta mua những tôi trai tớ gái, lại có nhiều đầy tớ sanh ra trong nhà ta. Ta có bầy bò và chiên nhiều hơn hết thảy những người ở trước ta tại Giê-ru-sa-lem.
7Куповав бранцї й бранки, а то були в мене й домовники; були в мене стада буйної й дрібної скотини більш, нїж у всїх, що перше мене були в Ерусалимі;
8Ta cũng thâu chứa bạc vàng, và những vật báu của các vua, các tỉnh. Ta lo sắm cho mình những con hát trai và gái, cùng sự khoái lạc của con trai loài người, tức là nhiều vợ và hầu.
8Призбірав я собі срібло й золото й скарби з царів і земель; завів у себе сьпіваків і сьпівачок і все, що веселить людей, та всякі музичні прибори.
9Như vậy ta trở nên cao trọng hơn hết thảy những người ở trước ta tại Giê-ru-sa-lem; dầu vậy, sự khôn ngoan vẫn còn ở cùng ta.
9Я зробивсь великим і богатим, так що переважив усїх, що бували поперед мене в Ерусалимі, а при всьому тому премудрість моя зоставалась у мене.
10Ta chẳng từ điều gì mắt mình ước ao, cũng chẳng cấm điều gì lòng mình ưa thích; vì lòng ta vui vẻ vì mọi công lao của ta; và đó là phần ta đã được trong mọi công lao ta.
10Чого б нї забажали очі мої, я вволяв їх волю; не уймав мому серцю нїяких радощів; серце бо моє веселилось усїми трудами моїми, й се був мій пай з усїх трудів моїх.
11Đoạn ta xem xét các công việc tay mình đã làm, và sự lao khổ mình đã chịu để làm nó; kìa, mọi điều đó là sự hư không và theo luồng gió thổi, chẳng có ích lợi gì hết dưới mặt trời.
11Та як поглянув я на все, що мої руки зробили й скільки завдавав я собі клопоту, працюючи, — бачу, що все воно марне, тільки мучить дух, і нїякої з того користї під сонцем.
12Ta bèn xây lại đặng xem xét sự khôn ngoan, sự ngu dại, và sự điên cuồng; vì người nào đến sau vua sẽ có thể làm gì? Bất quá làm điều người khác đã làm từ lâu rồi.
12І завзявсь я міркувати, що воно премудрість і що таке воно дурнота та безʼум; (Що вдїє той, що по царі постане? Вже з давен воно зроблено.)
13Vả, ta thấy sự khôn ngoan hơn sự ngu dại, cũng như ánh sáng hơn tối tăm.
13І я побачив, що мудрість бере гору над дурнотою, як сьвітло над темрявою:
14Người khôn ngoan có con mắt trong đầu mình, còn kẻ ngu muội bước đi trong tối tăm; dầu vậy, ta nhìn thấy hai đàng cùng gặp một số phận về sau.
14У мудрого очі в голові, а дурний ходить потемки; та пізнав я й те, що суджено долю однаку й сьому й тому.
15Nên ta có nói trong lòng rằng: Sự xảy đến cho kẻ dại, sẽ xảy đến cho ta cũng vậy; vậy, ta có nhiều khôn ngoan như thế mà làm chi? Ta lại nói trong lòng rằng: Điều đó là một sự hư không nữa.
15І кажу сам собі; доля дурного, се й моя доля. Про що ж менї було добиватись мудростї? І мусїв сказати сам собі: І се марнота!
16Vì người ta chẳng nhớ người khôn ngoan đến đời đời, cũng như chẳng nhớ kẻ ngu muội; vì trong ngày sau cả thảy đều bị quên mất từ lâu. Phải, người khôn ngoan chết cũng như kẻ điên cuồng?
16Мудрого не будуть споминати вічно, так само як і дурного; в будущинї все забудесь, — і, о горе! мудрий вмірає так само, як і дурний.
17Vậy, ta ghét đời sống, vì mọi việc làm ra dưới mặt trời là cực nhọc cho ta, thảy đều hư không, theo luồng gió thổi.
17І зробилось менї життє ненавидним, і огидло менї все, що дїється під сонцем; бо все воно марнота й утома духа.
18Ta cũng ghét mọi công lao ta đã làm ở dưới mặt trời, vì phải để lại cho người sau mình.
18І зненавидїв я всю працю мою, що працював під сонцем; бо маю все те зіставити другому, хто постане по менї.
19Vả, ai biết rằng người ấy sẽ khôn ngoan hay là ngu dại? Dầu thế nào, hắn sẽ cai quản mọi việc ta đã lấy sự lao khổ và khôn ngoan mà làm ở dưới mặt trời. Điều đó cũng là hư không.
19А хто знає, чи він буде мудрий, чи дурний? Однакже він буде панувати над тим усїм, що я трудом здобував, та показав себе мудрим під сонцем. І ось — марнота!
20Bởi cớ ấy ta trở lòng thất vọng về mọi công việc ta đã lao khổ mà làm ở dưới mặt trời.
20І я одвернувся й вговорював моє серце, відречись усього, над чим працював під сонцем;
21Vì có người làm công việc mình cách khôn ngoan, thông sáng, và tài giỏi, rồi phải để lại làm cơ nghiệp cho kẻ chẳng hề lao khổ làm đến. Điều đó cũng là một sự hư không và một sự tai nạn lớn.
21Инший бо працює з розумом, розсудливо й корисно, та й мусить покинути працю свою комусь такому, що не робив нїчого в тому, як коли б воно йому належалось. Се марнота, се річ вельми сумна!
22Vậy, ích chi cho người lao khổ, cực lòng mà làm việc ở dưới mặt trời?
22Бо що буде чоловікові за всї працї його, що томив себе, й за всю журбу серця свого під сонцем?
23Vì các ngày người chỉ là đau đớn, công lao người thành ra buồn rầu; đến đỗi ban đêm lòng người cũng chẳng được an nghỉ. Điều đó cũng là sự hư không.
23Щодня він журився й побивався, ба й у ночі не було впокою. Чи ж не марнота се?
24Chẳng gì tốt cho người hơn là ăn, uống, khiến linh hồn mình hưởng phước của lao khổ mình. Ta xem thấy điều đó cũng bởi tay Đức Chúa Trời mà đến.
24Не у власті людській і се добро, щоб їсти да пити й насолоджувати душу свою тим, що працею здобув. Я пересьвідчивсь, що й се з руки Божої;
25Vì ai là người được ăn và hưởng sự vui sướng hơn ta?
25Бо хто може їсти і вживати без його ласки?
26Bởi Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan, thông sáng, và vui vẻ cho kẻ nào đẹp lòng Ngài; nhưng Ngài khiến cho kẻ có tội phải lao khổ mà thâu góp chất chứa, để rồi ban cho người đẹp lòng Đức Chúa Trời. Điều đó cũng là sự hư không, theo luồng gió thổi.
26Тому бо, хто вгоден йому, дає він мудрість і знаттє й радощі; а грішному, щоб запобігав, дбав і до купи збірав, а вкінцї зіставив тому, кого Бог вподобав. Тут знов — марнота й утома духа.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.