Giáo 2
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Ta lại nói trong lòng rằng: Hè! hãy thử điều vui sướng và nếm sự khoái lạc: kìa, điều đó cũng là sự hư không.
1Palung thungah ka poek, Vaihi caeh ah, takpum nawmhaih loe kawbang maw oh tito kam tuengsak han, toe hae hmuen doeh azom pui ni.
2Ta nói: Cười là điên; vui sướng mà làm chi?
2Pahnuihaih loe amthuhaih ah oh moe, nawmhaih mah timaw angcoengsak? tiah ka thuih.
3Ta nghĩ trong lòng rằng phải uống rượu để cho thân mình vui sướng, mà sự khôn ngoan vẫn còn dẫn dắt lòng ta, lại nghĩ phải cầm lấy sự điên dại cho đến khi xem thử điều gì là tốt hơn cho con loài người làm ở dưới trời trọn đời mình sống.
3Kaminawk mah hing thung ni tlim ah timaw sak han hoih, tito ka panoek thai hanah, misurtui hoi nawm hanah tha ka pathok, toe amthuhaih ni ka naeh lat; ka palung mah palunghahaih hoiah ni loklam to ang hnuksak.
4Ta làm những công việc cả thể; ta cất nhà cho mình, trồng vườn nho cho mình,
4Kalen parai tok to ka sak; kaimah hanah imnawk to ka sak moe, misur takhanawk doeh ka sak.
5lập cho mình vườn cây trái và vườn hoa, và trồng cây trái đủ thứ ở đó;
5Takhanawk hoi apawk takhanawk to ka sak moe, takha thungah thingthai kung congca ka thling.
6ta đào hồ chứa nước đặng tưới rừng, là nơi cây cối lớn lên.
6Thingnawk to tui paek hanah, tuili to ka sak.
7Ta mua những tôi trai tớ gái, lại có nhiều đầy tớ sanh ra trong nhà ta. Ta có bầy bò và chiên nhiều hơn hết thảy những người ở trước ta tại Giê-ru-sa-lem.
7Ka im ah tapen tamnanawk, tamna nongpatanawk hoi nongpanawk doeh ka tawnh; kai om ai naah Jerusalem ah kaom tangcae kaminawk pongah doeh maitaw hoi tuunawk to ka tawnh kue.
8Ta cũng thâu chứa bạc vàng, và những vật báu của các vua, các tỉnh. Ta lo sắm cho mình những con hát trai và gái, cùng sự khoái lạc của con trai loài người, tức là nhiều vợ và hầu.
8Kaimah hanah sui hoi sumkanglungnawk to ka patung, siangpahrangnawk hoi prae thung ih hmuenmaenawk boih doeh ka tawnh; laasak kop nongpa hoi nongpatanawk to ka tawnh moe, nongpanawk poeknawm o hanah laasakhaih ahmuennawk, congca hmuennawk doeh ka tawnh.
9Như vậy ta trở nên cao trọng hơn hết thảy những người ở trước ta tại Giê-ru-sa-lem; dầu vậy, sự khôn ngoan vẫn còn ở cùng ta.
9Kai loe ka len parai, ka hmaa ah kaom Jerusalem kaminawk pongah ka len moe, palunghahaih doeh ka tawnh.
10Ta chẳng từ điều gì mắt mình ước ao, cũng chẳng cấm điều gì lòng mình ưa thích; vì lòng ta vui vẻ vì mọi công lao của ta; và đó là phần ta đã được trong mọi công lao ta.
10Ka mik mah khit ih hmuennawk nuiah angsumhaih ka tawn ai, ka palungthin nawmsak koi hmuen pongah angsumhaih ka tawn ai; ka toksakhaih boih ah anghoehaih ka tawnh; ka toksakhaih tangqum to ka hnuk.
11Đoạn ta xem xét các công việc tay mình đã làm, và sự lao khổ mình đã chịu để làm nó; kìa, mọi điều đó là sự hư không và theo luồng gió thổi, chẳng có ích lợi gì hết dưới mặt trời.
11Toe ka ban mah sak ih hmuennawk boih to ka khet naah, ka sak ih toknawk boih loe azom pui ni, takhi hnukah patomhaih hoiah ni anghmong; ni tlim ah atho ohhaih tidoeh om ai.
12Ta bèn xây lại đặng xem xét sự khôn ngoan, sự ngu dại, và sự điên cuồng; vì người nào đến sau vua sẽ có thể làm gì? Bất quá làm điều người khác đã làm từ lâu rồi.
12To pacoengah poekhaih ka paqoi moe, palunghahaih, palungmaenghaih hoi amthuhaihnawk to ka poek; sak tangcae hmuennawk pong kamtlai ah, siangpahrang pacoengah kaom kami mah timaw sah thai tih?
13Vả, ta thấy sự khôn ngoan hơn sự ngu dại, cũng như ánh sáng hơn tối tăm.
13Aanghaih loe vinghaih pongah hoih kue baktih toengah, palunghahaih loe amthuhaih pongah hoih kue, tito ka panoek.
14Người khôn ngoan có con mắt trong đầu mình, còn kẻ ngu muội bước đi trong tối tăm; dầu vậy, ta nhìn thấy hai đàng cùng gặp một số phận về sau.
14Palungha kami ih mik loe a lu nuiah suek; toe kamthu loe vinghaih thungah caeh; toe boeng naah nihnik mah tongh han koi hmuen loe maeto ah ni oh, tito ka panoek.
15Nên ta có nói trong lòng rằng: Sự xảy đến cho kẻ dại, sẽ xảy đến cho ta cũng vậy; vậy, ta có nhiều khôn ngoan như thế mà làm chi? Ta lại nói trong lòng rằng: Điều đó là một sự hư không nữa.
15To pongah palung thungah hae tiah ka poek, Kamthu khaeah kaom hmuen baktiah ni, kai khaeah doeh oh toeng; to tih nahaeloe tipongah kai loe palungha kue ah ka oh loe? To pacoengah loe ka palung thungah, Hae hmuen doeh azom pui bae hae, tiah ka poek.
16Vì người ta chẳng nhớ người khôn ngoan đến đời đời, cũng như chẳng nhớ kẻ ngu muội; vì trong ngày sau cả thảy đều bị quên mất từ lâu. Phải, người khôn ngoan chết cũng như kẻ điên cuồng?
16Vaihi kaom hmuennawk hae hmabangah loe pahnet boih ah om tih, to pongah palungha kami doeh kamthu baktiah ni pahnet o tih; palungha kami doeh kamthu baktiah ni dueh toeng tih.
17Vậy, ta ghét đời sống, vì mọi việc làm ra dưới mặt trời là cực nhọc cho ta, thảy đều hư không, theo luồng gió thổi.
17To pongah hinghaih hae ka hnukma; ni tlim ah sak ih tok mah palungsethaih ni ang paek; hmuen boih loe azom pui ni, takhi hnukah patom rumramhaih tok ah ni oh o.
18Ta cũng ghét mọi công lao ta đã làm ở dưới mặt trời, vì phải để lại cho người sau mình.
18Ue, ka hnukah angzo han koi kami khaeah caehtaak han oh pongah, ni tlim ah angpho qawt hoi ka sak ih toknawk boih to ka hnukma.
19Vả, ai biết rằng người ấy sẽ khôn ngoan hay là ngu dại? Dầu thế nào, hắn sẽ cai quản mọi việc ta đã lấy sự lao khổ và khôn ngoan mà làm ở dưới mặt trời. Điều đó cũng là hư không.
19Anih loe palungha maw, to tih ai boeh loe amthu maw, tiah mi mah maw panoek tih? Tha pathok moe, tok ka sakhaih boih, ni tlim ah palunghahaih kam tuengsak ih hmuennawk boih loe anih mah ni la tih. To pongah hae hmuen doeh azom pui ni.
20Bởi cớ ấy ta trở lòng thất vọng về mọi công việc ta đã lao khổ mà làm ở dưới mặt trời.
20To pongah ni tlim ah tha ka pathok moe, tok ka sakhaih mah palung ang boengsak sut boeh.
21Vì có người làm công việc mình cách khôn ngoan, thông sáng, và tài giỏi, rồi phải để lại làm cơ nghiệp cho kẻ chẳng hề lao khổ làm đến. Điều đó cũng là một sự hư không và một sự tai nạn lớn.
21Kami mah palunghahaih, panoekhaih, thoemhaih hoi toksah tih, toe a tawnh ih hmuennawk to toksah ai kami hanah ni caehtaak boih tih. Hae hmuen doeh azom pui ah oh moe, kalen koek tahamsethaih ah ni oh.
22Vậy, ích chi cho người lao khổ, cực lòng mà làm việc ở dưới mặt trời?
22Kami mah ni tlim ah tha pathokhaih boih, poek patanghaih hoi toksakhaih pongah, timaw amekhaih hnuk?
23Vì các ngày người chỉ là đau đớn, công lao người thành ra buồn rầu; đến đỗi ban đêm lòng người cũng chẳng được an nghỉ. Điều đó cũng là sự hư không.
23Anih ih aninawk boih loe palungsethaih ah oh moe, a toksakhaih doeh patangkhanghaih ah ni oh; ue, aqum ah doeh palungthin to anghak ai. Hae hmuen doeh azom pui ni.
24Chẳng gì tốt cho người hơn là ăn, uống, khiến linh hồn mình hưởng phước của lao khổ mình. Ta xem thấy điều đó cũng bởi tay Đức Chúa Trời mà đến.
24Kami loe caak moe, naek pacoengah, sak ih tok nui ah kanawm acaenghaih pongah kahoih kue tidoeh om ai boeh. Ka hnukhaih dan ah, hae hmuen doeh Sithaw ban hoi kaom hmuen ah ni oh.
25Vì ai là người được ăn và hưởng sự vui sướng hơn ta?
25Angmah ai ah, mi maw caaknaek to hnu moe, nawmhaih pakrong thaih?
26Bởi Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan, thông sáng, và vui vẻ cho kẻ nào đẹp lòng Ngài; nhưng Ngài khiến cho kẻ có tội phải lao khổ mà thâu góp chất chứa, để rồi ban cho người đẹp lòng Đức Chúa Trời. Điều đó cũng là sự hư không, theo luồng gió thổi.
26A mikhnuk ah kahoih kami khaeah Sithaw mah, palunghahaih, panoekhaih hoi anghoehaih to paek; toe kazae kami khaeah loe khosak raihaih to paek tih, anih mah tawnh ih hmuennawk loe Sithaw palung anghoesak kami hanah paek boih tih. Hae hmuen doeh azom pui ni, takhi hnukah patom rumramhaih tok ah ni oh.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.