Giáo 2
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Freedom Bible (Thai)
1Ta lại nói trong lòng rằng: Hè! hãy thử điều vui sướng và nếm sự khoái lạc: kìa, điều đó cũng là sự hư không.
1ฉันคิดในใจว่า “เอาละ ฉันจะลองทดสอบตัวเองด้วยความรื่นเริง และลองลิ้มรสความสุขดู” แต่แล้วสิ่งนี้ก็ว่างเปล่าเช่นกัน
2Ta nói: Cười là điên; vui sướng mà làm chi?
2ฉันพูดถึงเสียงหัวเราะว่า “มันคือความโง่เขลา” และพูดถึงความรื่นเริงว่า “มันทำอะไรได้?”
3Ta nghĩ trong lòng rằng phải uống rượu để cho thân mình vui sướng, mà sự khôn ngoan vẫn còn dẫn dắt lòng ta, lại nghĩ phải cầm lấy sự điên dại cho đến khi xem thử điều gì là tốt hơn cho con loài người làm ở dưới trời trọn đời mình sống.
3ฉันลองให้ร่างกายชื่นบานด้วยเหล้าองุ่น ขณะที่ใจยังมีปัญญานำทาง และลองสัมผัสความโง่เขลา เพื่อจะได้เห็นว่าอะไรเป็นสิ่งดีที่มนุษย์ควรทำภายใต้ท้องฟ้าตลอดวันเวลาในชีวิต
4Ta làm những công việc cả thể; ta cất nhà cho mình, trồng vườn nho cho mình,
4ฉันทำสิ่งใหญ่โตหลายอย่าง สร้างบ้านหลายหลังให้ตัวเอง และปลูกสวนองุ่นหลายแห่ง
5lập cho mình vườn cây trái và vườn hoa, và trồng cây trái đủ thứ ở đó;
5ฉันทำสวนและอุทยาน ปลูกไม้ผลนานาชนิดไว้ในนั้น
6ta đào hồ chứa nước đặng tưới rừng, là nơi cây cối lớn lên.
6ฉันขุดสระน้ำไว้รดสวนป่าที่ปลูกไว้
7Ta mua những tôi trai tớ gái, lại có nhiều đầy tớ sanh ra trong nhà ta. Ta có bầy bò và chiên nhiều hơn hết thảy những người ở trước ta tại Giê-ru-sa-lem.
7ฉันซื้อทั้งคนรับใช้ชายและหญิง และยังมีคนรับใช้ที่เกิดในบ้าน ฉันมีฝูงวัวและฝูงแกะมากกว่าทุกคนที่อยู่ก่อนฉันในเยรูซาเล็ม
8Ta cũng thâu chứa bạc vàng, và những vật báu của các vua, các tỉnh. Ta lo sắm cho mình những con hát trai và gái, cùng sự khoái lạc của con trai loài người, tức là nhiều vợ và hầu.
8ฉันสะสมเงินและทอง รวมทั้งขุมทรัพย์ของกษัตริย์และแคว้นต่าง ๆ มีทั้งนักร้องชายและนักร้องหญิง และสิ่งรื่นรมย์ของมนุษย์ คือเครื่องดนตรีนานาชนิด
9Như vậy ta trở nên cao trọng hơn hết thảy những người ở trước ta tại Giê-ru-sa-lem; dầu vậy, sự khôn ngoan vẫn còn ở cùng ta.
9ฉันจึงยิ่งใหญ่และรุ่งเรืองกว่าทุกคนที่อยู่ก่อนฉันในเยรูซาเล็ม ขณะเดียวกัน ฉันก็ยังคงมีปัญญาอยู่
10Ta chẳng từ điều gì mắt mình ước ao, cũng chẳng cấm điều gì lòng mình ưa thích; vì lòng ta vui vẻ vì mọi công lao của ta; và đó là phần ta đã được trong mọi công lao ta.
10สิ่งใดที่ตาปรารถนา ฉันก็ไม่ห้ามตนเอง และไม่รั้งใจจากความยินดีใด ๆ เพราะใจชื่นชมกับงานทั้งหมดที่ฉันตรากตรำทำ และนี่คือส่วนที่ฉันได้รับจากงานทั้งหมดนั้น
11Đoạn ta xem xét các công việc tay mình đã làm, và sự lao khổ mình đã chịu để làm nó; kìa, mọi điều đó là sự hư không và theo luồng gió thổi, chẳng có ích lợi gì hết dưới mặt trời.
11เมื่อฉันหันกลับมาพิจารณาผลงานทั้งหมดที่สองมือทำขึ้น และงานที่ฉันตรากตรำทำ ก็เห็นว่าทุกสิ่งล้วนว่างเปล่า เป็นการไล่คว้าสายลม และไม่มีประโยชน์อะไรภายใต้ดวงอาทิตย์
12Ta bèn xây lại đặng xem xét sự khôn ngoan, sự ngu dại, và sự điên cuồng; vì người nào đến sau vua sẽ có thể làm gì? Bất quá làm điều người khác đã làm từ lâu rồi.
12ฉันจึงหันมาพิจารณาปัญญา ความบ้าคลั่ง และความโง่เขลา เพราะผู้ที่จะสืบต่อจากกษัตริย์จะทำอะไรได้ นอกจากสิ่งที่เคยทำกันมาแล้ว?
13Vả, ta thấy sự khôn ngoan hơn sự ngu dại, cũng như ánh sáng hơn tối tăm.
13แล้วฉันก็เห็นว่าปัญญาเหนือกว่าความโง่เขลา เหมือนแสงสว่างเหนือกว่าความมืด
14Người khôn ngoan có con mắt trong đầu mình, còn kẻ ngu muội bước đi trong tối tăm; dầu vậy, ta nhìn thấy hai đàng cùng gặp một số phận về sau.
14คนมีปัญญาย่อมมองเห็นทางข้างหน้า แต่คนโง่เดินในความมืด ถึงอย่างนั้นฉันก็ตระหนักว่าเหตุการณ์เดียวกันเกิดแก่ทั้งคู่
15Nên ta có nói trong lòng rằng: Sự xảy đến cho kẻ dại, sẽ xảy đến cho ta cũng vậy; vậy, ta có nhiều khôn ngoan như thế mà làm chi? Ta lại nói trong lòng rằng: Điều đó là một sự hư không nữa.
15ฉันจึงคิดในใจว่า “สิ่งที่เกิดกับคนโง่ก็จะเกิดกับฉัน แล้วฉันจะมีปัญญามากกว่าไปทำไม?” ฉันจึงคิดในใจว่าสิ่งนี้ก็ว่างเปล่าเช่นกัน
16Vì người ta chẳng nhớ người khôn ngoan đến đời đời, cũng như chẳng nhớ kẻ ngu muội; vì trong ngày sau cả thảy đều bị quên mất từ lâu. Phải, người khôn ngoan chết cũng như kẻ điên cuồng?
16เพราะไม่มีใครจดจำทั้งคนมีปัญญาและคนโง่ตลอดไป ในวันข้างหน้าทั้งสองก็จะถูกลืมไปหมด แล้วคนมีปัญญาก็ต้องตายเหมือนคนโง่!
17Vậy, ta ghét đời sống, vì mọi việc làm ra dưới mặt trời là cực nhọc cho ta, thảy đều hư không, theo luồng gió thổi.
17ฉันจึงเกลียดชีวิต เพราะงานที่ทำกันภายใต้ดวงอาทิตย์ทำให้ฉันทุกข์ใจ ทุกสิ่งล้วนว่างเปล่า และเป็นการไล่คว้าสายลม
18Ta cũng ghét mọi công lao ta đã làm ở dưới mặt trời, vì phải để lại cho người sau mình.
18ฉันเกลียดงานทั้งหมดที่ตรากตรำทำภายใต้ดวงอาทิตย์ เพราะต้องทิ้งมันไว้ให้คนที่มาภายหลัง
19Vả, ai biết rằng người ấy sẽ khôn ngoan hay là ngu dại? Dầu thế nào, hắn sẽ cai quản mọi việc ta đã lấy sự lao khổ và khôn ngoan mà làm ở dưới mặt trời. Điều đó cũng là hư không.
19ใครจะรู้ว่าเขาจะเป็นคนมีปัญญาหรือคนโง่? แต่เขาจะได้ครอบครองผลงานทั้งหมดที่ฉันตรากตรำและใช้ปัญญาทำภายใต้ดวงอาทิตย์ สิ่งนี้ก็ว่างเปล่าเช่นกัน
20Bởi cớ ấy ta trở lòng thất vọng về mọi công việc ta đã lao khổ mà làm ở dưới mặt trời.
20ฉันจึงเริ่มสิ้นหวังกับงานทั้งหมดที่ตรากตรำทำภายใต้ดวงอาทิตย์
21Vì có người làm công việc mình cách khôn ngoan, thông sáng, và tài giỏi, rồi phải để lại làm cơ nghiệp cho kẻ chẳng hề lao khổ làm đến. Điều đó cũng là một sự hư không và một sự tai nạn lớn.
21เพราะบางคนทำงานด้วยปัญญา ความรู้ และความชำนาญ แต่กลับต้องทิ้งผลงานนั้นไว้เป็นส่วนของคนที่ไม่ได้ตรากตรำเพื่อมัน สิ่งนี้ก็ว่างเปล่าและเป็นความเลวร้ายอย่างยิ่ง
22Vậy, ích chi cho người lao khổ, cực lòng mà làm việc ở dưới mặt trời?
22มนุษย์ได้อะไรจากงานทั้งหมด และจากความกระวนกระวายในใจ ขณะตรากตรำทำงานภายใต้ดวงอาทิตย์?
23Vì các ngày người chỉ là đau đớn, công lao người thành ra buồn rầu; đến đỗi ban đêm lòng người cũng chẳng được an nghỉ. Điều đó cũng là sự hư không.
23ตลอดวันเวลาของเขาเต็มไปด้วยความเจ็บปวด งานหนักของเขาเต็มไปด้วยความทุกข์ใจ แม้แต่กลางคืนใจก็ไม่ได้พัก สิ่งนี้ก็ว่างเปล่าเช่นกัน
24Chẳng gì tốt cho người hơn là ăn, uống, khiến linh hồn mình hưởng phước của lao khổ mình. Ta xem thấy điều đó cũng bởi tay Đức Chúa Trời mà đến.
24ไม่มีอะไรดีสำหรับมนุษย์ไปกว่าการกิน การดื่ม และการชื่นชมสิ่งดีจากงานของตน ฉันยังเห็นว่าสิ่งนี้มาจากมือของพระเจ้า
25Vì ai là người được ăn và hưởng sự vui sướng hơn ta?
25เพราะใครจะกินหรือเพลิดเพลินได้มากกว่าฉัน?
26Bởi Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan, thông sáng, và vui vẻ cho kẻ nào đẹp lòng Ngài; nhưng Ngài khiến cho kẻ có tội phải lao khổ mà thâu góp chất chứa, để rồi ban cho người đẹp lòng Đức Chúa Trời. Điều đó cũng là sự hư không, theo luồng gió thổi.
26พระเจ้าให้ปัญญา ความรู้ และความยินดีแก่คนที่พระองค์พอใจ แต่ให้คนทำบาปตรากตรำรวบรวมและสะสม เพื่อจะมอบสิ่งนั้นแก่คนที่พระเจ้าพอใจ สิ่งนี้ก็ว่างเปล่าและเป็นการไล่คว้าสายลมเช่นกัน
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.