I Vua 1
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Freedom Bible (Thai)
1Vua Đa-vít đã già; tuổi cao; và mặc dầu người ta đắp áo cho người, cũng không thể ấm được.
1เมื่อกษัตริย์ดาวิดชรามากแล้ว แม้คนจะเอาเสื้อผ้าคลุมพระองค์ พระองค์ก็ยังไม่อบอุ่น
2Các tôi tớ người nói với người rằng: Xin tìm cho vua chúa tôi một gái trẻ đồng trinh, để hầu hạ vua và săn sóc vua. Nàng sẽ nằm trong lòng vua, thì vua chúa tôi có thể ấm được.
2เหล่าข้ารับใช้จึงทูลว่า “ขอให้หาหญิงสาวพรหมจารีคนหนึ่งมาถวายกษัตริย์ผู้เป็นนายของเรา ให้นางคอยรับใช้และดูแลพระองค์ และนอนแนบอกพระองค์เพื่อให้ทรงอบอุ่น”
3Vậy người ta tìm trong khắp địa phận Y-sơ-ra-ên một người gái trẻ đẹp, và gặp được A-bi-sác, người Su-nem, dẫn nàng đến cùng vua.
3พวกเขาจึงค้นหาหญิงสาวหน้าตาดีทั่วดินแดนอิสราเอล พบอาบีชากชาวชูเนม แล้วพานางมาหากษัตริย์
4Người gái trẻ này rất là lịch sự. Nàng săn sóc và hầu hạ vua; nhưng vua không thân cận nàng.
4หญิงสาวคนนี้งดงามมาก นางดูแลและรับใช้กษัตริย์ แต่กษัตริย์ไม่ได้มีความสัมพันธ์ทางเพศกับนาง
5Vả, A-đô-ni-gia, con trai Ha-ghít, tự tôn mà rằng: Ta sẽ làm vua. Người sắm xe và quân kỵ, cùng năm mươi người chạy trước mặt mình.
5ฝ่ายอาโดนียาห์บุตรฮักกีทยกตนขึ้นและพูดว่า “ข้าจะเป็นกษัตริย์” เขาจึงจัดเตรียมรถรบ พลม้า และคนห้าสิบคนให้วิ่งนำหน้า
6Cha người chẳng hề phiền lòng người mà hỏi rằng: Cớ sao mầy làm như vậy? Vả lại, A-đô-ni-gia rất đẹp, sanh ra kế sau Aùp-sa-lôm.
6ดาวิดบิดาของเขาไม่เคยขัดใจเขาด้วยการถามว่า “ทำไมเจ้าจึงทำอย่างนั้น?” อาโดนียาห์เป็นชายรูปงาม และเป็นบุตรที่เกิดถัดจากอับซาโลม
7Người bàn tính với Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia và với thầy tế lễ A-bia-tha; hai người theo phe A-đô-ni-gia và giúp đỡ người.
7เขาปรึกษากับโยอาบบุตรเศรุยาห์และอาบียาธาร์ปุโรหิต ทั้งสองเข้าร่วมฝ่ายอาโดนียาห์และสนับสนุนเขา
8Nhưng thầy tế lễ Xa-đốc và Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, Na-than, thầy tiên tri, Si-mê-i, Rê-i, và các dõng sĩ của Đa-vít không theo phe A-đô-ni-gia.
8แต่ศาโดกปุโรหิต เบไนยาห์บุตรเยโฮยาดา นาธันผู้เผยพระวจนะ ชิเมอี เรอี และนักรบผู้กล้าของดาวิดไม่ได้อยู่ฝ่ายอาโดนียาห์
9A-đô-ni-gia dâng những chiên, bò, và bò con mập bên hòn đá Xô-hê-lết, ở cạnh giếng Eân-Rô-ghên; rồi mời anh em mình, là các con trai của vua, và hết thảy những người Giu-đa phục sự vua.
9อาโดนียาห์ฆ่าแกะ วัว และสัตว์ขุนไว้ที่ก้อนหินโซเฮเลทใกล้เอนโรเกล แล้วเชิญพี่น้องทุกคนซึ่งเป็นโอรสของกษัตริย์ และชาวยูดาห์ทุกคนที่เป็นข้ารับใช้กษัตริย์
10Nhưng người chẳng mời Na-than, là đấng tiên tri, Bê-na-gia, các dõng sĩ, cùng Sa-lô-môn, em mình.
10แต่เขาไม่ได้เชิญนาธันผู้เผยพระวจนะ เบไนยาห์ เหล่านักรบผู้กล้า หรือโซโลมอนน้องชายของตน
11Bấy giờ, Na-than nói với Bát-Sê-ba, mẹ của Sa-lô-môn, mà rằng: Bà há chẳng hay rằng A-đô-ni-gia, con trai Ha-ghít, đã làm vua, mà Đa-vít, chúa ta, chẳng hay biết sao?
11นาธันจึงพูดกับบัทเชบามารดาของโซโลมอนว่า “ท่านไม่ได้ยินหรือว่าอาโดนียาห์บุตรฮักกีทขึ้นครองราชย์แล้ว โดยดาวิดเจ้านายของเราไม่รู้เรื่อง?
12Thế thì, bây giờ, hãy nghe; tôi sẽ cho bà một kế để bà cứu mạng sống mình và mạng sống của Sa-lô-môn.
12โปรดมาฟังคำแนะนำของข้า เพื่อท่านจะได้รักษาชีวิตของท่านและชีวิตโซโลมอนบุตรของท่านไว้
13Hãy đi ra mắt vua Đa-vít, và tâu rằng: Oâi vua, chúa tôi! chúa há chẳng có thề cùng con đòi của chúa rằng: Con trai ngươi là Sa-lô-môn ắt sẽ trị vì kế ta, và nó sẽ ngồi trên ngôi ta, hay sao? Vậy, cớ sao A-đô-ni-gia trị vì?
13จงเข้าไปหากษัตริย์ดาวิดแล้วทูลว่า ‘กษัตริย์เจ้านายของข้าพเจ้า พระองค์ไม่ได้สาบานต่อข้าพเจ้าหรือว่า “โซโลมอนบุตรของเจ้าจะขึ้นครองราชย์ต่อจากเรา และจะนั่งบนบัลลังก์ของเรา”? แล้วเหตุใดอาโดนียาห์จึงขึ้นครองราชย์?’
14Trong lúc bà tâu với vua như vậy, thì chính tôi cũng sẽ đi vào sau, làm cho quả quyết các lời của bà.
14ดูเถิด ขณะที่ท่านยังพูดกับกษัตริย์อยู่ ข้าจะตามเข้าไปยืนยันคำของท่าน”
15Vậy, Bát-Sê-ba đi đến cùng vua, tại trong phòng. Vua đã già lắm có A-bi-sác, người Su-nem, hầu hạ người.
15บัทเชบาจึงเข้าไปหากษัตริย์ในห้องของพระองค์ กษัตริย์ชรามากแล้ว และอาบีชากชาวชูเนมกำลังรับใช้พระองค์อยู่
16Bát-Sê-ba cúi mình xuống và lạy trước mặt vua. Vua hỏi rằng: Ngươi muốn chi?
16บัทเชบาก้มคำนับแสดงความเคารพ กษัตริย์ถามว่า “เจ้าต้องการอะไร?”
17Bà tâu rằng: Chúa tôi ôi! chúa đã nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúa thề cùng con đòi của chúa rằng: Sa-lô-môn con trai ngươi sẽ trị vì kế ta, và nó sẽ ngồi trên ngôi ta.
17นางทูลว่า “เจ้านายของข้าพเจ้า พระองค์ทรงสาบานต่อข้าพเจ้าโดยอ้างพระยาห์เวห์ พระเจ้าของพระองค์ ว่า ‘โซโลมอนบุตรของเจ้าจะขึ้นครองราชย์ต่อจากเรา และจะนั่งบนบัลลังก์ของเรา’
18Oâi vua chúa tôi! nhưng bây giờ, A-đô-ni-gia làm vua, mà chúa chẳng biết chi đến.
18แต่บัดนี้อาโดนียาห์ขึ้นครองราชย์แล้ว โดยพระองค์ผู้เป็นกษัตริย์เจ้านายของข้าพเจ้าไม่ทรงทราบ
19Người lại có giết bò đực, bò tơ mập, và chiên rất nhiều, cũng có mời hết thảy các vương tử với A-bia-tha, thầy tế lễ, và Giô-áp, quan tổng binh; nhưng người không mời Sa-lô-môn, kẻ tôi tớ vua.
19เขาฆ่าวัว สัตว์ขุน และแกะเป็นจำนวนมาก แล้วเชิญโอรสทุกคนของกษัตริย์ อาบียาธาร์ปุโรหิต และโยอาบแม่ทัพ แต่ไม่ได้เชิญโซโลมอนผู้รับใช้ของพระองค์
20Oâi vua chúa tôi! cả Y-sơ-ra-ên đều xây mắt về vua, đợi vua cho họ biết ai là người kế vua phải ngồi trên ngai của vua, là chúa tôi.
20กษัตริย์เจ้านายของข้าพเจ้า ชาวอิสราเอลทุกคนกำลังจับตาดูพระองค์ เพื่อพระองค์จะทรงบอกพวกเขาว่าใครจะนั่งบนบัลลังก์ของพระองค์ต่อจากพระองค์
21Chẳng vậy, khi vua chúa tôi an giấc với các tổ phụ, thì tôi và con trai tôi là Sa-lô-môn sẽ bị xử như kẻ có tội.
21มิฉะนั้น เมื่อกษัตริย์เจ้านายของข้าพเจ้าล่วงลับไป ข้าพเจ้าและโซโลมอนบุตรของข้าพเจ้าจะถูกถือว่าเป็นอาชญากร”
22Bà đang còn tâu với vua, thì tiên tri Na-than đến.
22ขณะที่นางยังพูดกับกษัตริย์ นาธันผู้เผยพระวจนะก็เข้ามา
23Người ta đến thưa cùng vua rằng: Nầy có tiên tri Na-than. Na-than ra mắt vua, sấp mình xuống trước mặt người mà lạy.
23มีคนทูลกษัตริย์ว่า “นาธันผู้เผยพระวจนะมาแล้ว” นาธันเข้าเฝ้าและก้มกราบลงจนหน้าติดพื้น
24và nói rằng: Oâi vua chúa tôi! có phải vua đã phán rằng: A-đô-ni-gia sẽ trị vì kế ta và ngồi trên ngai ta, chăng?
24นาธันทูลว่า “กษัตริย์เจ้านายของข้าพเจ้า พระองค์ตรัสไว้หรือว่า ‘อาโดนียาห์จะขึ้นครองราชย์ต่อจากเรา และจะนั่งบนบัลลังก์ของเรา’?
25Thật vậy, ngày nay, người đã đi xuống giết bò, bò tơ mập, và chiên rất nhiều, cùng mời hết thảy các vương tử, quan tướng, và thầy tế lễ A-bia-tha; kìa, họ ăn uống tại trước mặt người, và la lên rằng: A-đô-ni-gia vạn tuế!
25วันนี้เขาลงไปฆ่าวัว สัตว์ขุน และแกะมากมาย และเชิญโอรสทุกคนของกษัตริย์ เหล่าแม่ทัพ และอาบียาธาร์ปุโรหิต บัดนี้พวกเขากำลังกินดื่มอยู่ต่อหน้าเขาและร้องว่า ‘ขอกษัตริย์อาโดนียาห์ทรงพระเจริญ!’
26Còn tôi là kẻ tôi tớ vua, thầy tế lễ Xa-đốc, Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, và Sa-lô-môn, tôi tớ vua, thì người chẳng có mời.
26แต่เขาไม่ได้เชิญข้าพเจ้าผู้รับใช้ของพระองค์ ศาโดกปุโรหิต เบไนยาห์บุตรเยโฮยาดา และโซโลมอนผู้รับใช้ของพระองค์
27Việc này há phải bởi vua chúa tôi mà ra? Và lại vua không cho các tôi tớ vua biết ai là người kế vua, phải ngồi trên ngai của vua chúa tôi.
27เรื่องนี้เกิดขึ้นตามพระบัญชาของกษัตริย์เจ้านายของข้าพเจ้าหรือ โดยพระองค์ไม่ได้แจ้งเหล่าข้ารับใช้ว่าใครจะนั่งบนบัลลังก์ต่อจากพระองค์?”
28Vua Đa-vít đáp rằng: Hãy gọi Bát-Sê-ba cho ta. Bà vào và đứng trước mặt vua.
28กษัตริย์ดาวิดจึงตรัสว่า “ไปเรียกบัทเชบามาหาเรา” นางก็เข้ามายืนต่อหน้ากษัตริย์
29Đa-vít bèn thề mà rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã giải cứu mạng sống ta khỏi các hoạn nạn!
29กษัตริย์ทรงสาบานว่า “พระยาห์เวห์ผู้ทรงช่วยชีวิตเราให้พ้นจากความทุกข์ยากทั้งสิ้นทรงมีชีวิตอยู่แน่ฉันใด
30Ta nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề cùng ngươi rằng: Quả hẳn Sa-lô-môn, con trai ngươi, sẽ trị vì kế ta, nó sẽ ngồi trên ngai thế cho ta; thì ngày nay ta sẽ làm hoàn thành điều đó.
30เราเคยสาบานต่อเจ้าโดยอ้างพระยาห์เวห์พระเจ้าแห่งอิสราเอลว่า ‘โซโลมอนบุตรของเจ้าจะขึ้นครองราชย์ต่อจากเรา และจะนั่งบนบัลลังก์แทนเรา’ วันนี้เราจะทำตามนั้นอย่างแน่นอนฉันนั้น”
31Bát-Sê-ba cúi mặt xuống đất và lạy trước mặt vua, mà tâu rằng: Nguyện vua Đa-vít, chúa tôi, vạn tuế!
31บัทเชบาก้มกราบลงจนหน้าติดพื้นแสดงความเคารพ แล้วทูลว่า “ขอกษัตริย์ดาวิดเจ้านายของข้าพเจ้าทรงพระเจริญตลอดไป!”
32Đoạn, vua Đa-vít nói: Hãy gọi cho ta thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than, và Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa. Mấy người ấy bèn ra mắt vua.
32กษัตริย์ดาวิดตรัสว่า “เรียกศาโดกปุโรหิต นาธันผู้เผยพระวจนะ และเบไนยาห์บุตรเยโฮยาดามาหาเรา” พวกเขาจึงมาเข้าเฝ้า
33Rồi vua nói với họ rằng: Hãy đem các đầy tớ của chủ các ngươi theo, đỡ Sa-lô-môn, con trai ta, lên cỡi con la của ta, rồi đưa nó đến Ghi-hôn.
33กษัตริย์ตรัสกับพวกเขาว่า “จงพาข้ารับใช้ของเจ้านายพวกเจ้าไปด้วย ให้โซโลมอนบุตรของเราขี่ล่อของเราเอง แล้วพาเขาลงไปที่กีโฮน
34ỳ đó, thầy tế lễ Xa-đốc và tiên tri Na-than phải xức dầu cho người làm vua Y-sơ-ra-ên. Đoạn, các ngươi hãy thổi kèn lên mà hô rằng:
34ให้ศาโดกปุโรหิตกับนาธันผู้เผยพระวจนะเจิมเขาเป็นกษัตริย์เหนืออิสราเอลที่นั่น แล้วเป่าแตรร้องว่า ‘ขอกษัตริย์โซโลมอนทรงพระเจริญ!’
35Vua Sa-lô-môn vạn tuế! Các ngươi sẽ theo sau người trở lên, người sẽ đến ngồi trên ngai ta, và trị vì thế cho ta. Aáy là người mà ta đã lập làm vua của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.
35จากนั้นจงขึ้นมาตามเขา ให้เขามานั่งบนบัลลังก์ของเราและเป็นกษัตริย์แทนเรา เราแต่งตั้งเขาเป็นผู้นำเหนืออิสราเอลและยูดาห์”
36Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa tâu cùng vua rằng: A-men! Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua chúa tôi, cũng phán định như vậy.
36เบไนยาห์บุตรเยโฮยาดาทูลตอบกษัตริย์ว่า “อาเมน! ขอพระยาห์เวห์พระเจ้าของกษัตริย์เจ้านายของข้าพเจ้ารับรองเช่นนั้น
37Đức Giê-hô-va đã ở cùng vua chúa tôi thể nào, nguyện Ngài cũng ở cùng Sa-lô-môn thể ấy, và khiến ngôi người còn cao trọng hơn ngôi của vua Đa-vít, là chúa tôi!
37พระยาห์เวห์ทรงอยู่กับกษัตริย์เจ้านายของข้าพเจ้าอย่างไร ก็ขอทรงอยู่กับโซโลมอนอย่างนั้น และทรงทำให้บัลลังก์ของเขายิ่งใหญ่กว่าบัลลังก์ของกษัตริย์ดาวิดเจ้านายของข้าพเจ้า”
38Đoạn, thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than, Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, những người Kê-rê-thít và Phê-lê-thít, đều đi xuống, đỡ Sa-lô-môn lên cỡi con la của vua Đa-vít rồi đưa người đến Ghi-hôn.
38ศาโดกปุโรหิต นาธันผู้เผยพระวจนะ เบไนยาห์บุตรเยโฮยาดา ชาวเคเรธีและชาวเปเลธีจึงลงไป พวกเขาให้โซโลมอนขี่ล่อของกษัตริย์ดาวิดและพาไปยังกีโฮน
39Thầy tế lễ Xa-đốc lấy cái sừng dầu trong Đền tạm, và xức cho Sa-lô-môn. Người ta thổi kèn, cả dân sự đều hô lên rằng: Vua Sa-lô-môn vạn tuế!
39ศาโดกปุโรหิตนำเขาสัตว์ที่บรรจุน้ำมันมาจากเต็นท์ แล้วเจิมโซโลมอน พวกเขาเป่าแตร และประชาชนทั้งหมดร้องว่า “ขอกษัตริย์โซโลมอนทรงพระเจริญ!”
40Chúng đều theo người đi lên, thổi sáo, và vui mừng khôn xiết, đến nỗi đất rúng động bởi tiếng la của họ.
40ประชาชนทั้งหมดขึ้นมาตามโซโลมอน เป่าขลุ่ยและโห่ร้องด้วยความยินดีอย่างยิ่ง จนพื้นดินสะเทือนด้วยเสียงของพวกเขา
41A-đô-ni-gia và hết thảy kẻ dự tiệc với mình đều nghe tiếng này khi vừa ăn xong. Lúc Giô-áp nghe tiếng kèn, thì nói: Sao trong thành có tiếng xôn xao ấy?
41อาโดนียาห์และแขกทุกคนได้ยินเสียงนั้นเมื่อกินอาหารเสร็จ โยอาบได้ยินเสียงแตรจึงถามว่า “เหตุใดเมืองจึงส่งเสียงอึกทึกอย่างนี้?”
42Người hãy còn nói, kìa Giô-na-than, con trai thầy tế lễ A-bia-tha, chợt đến. A-đô-ni-gia nói với người rằng: Hãy vào, vì ngươi là một tay dõng sĩ, chắc ngươi đem những tin lành.
42ขณะที่เขายังพูดอยู่ โยนาธานบุตรอาบียาธาร์ปุโรหิตก็มาถึง อาโดนียาห์พูดว่า “เข้ามาเถิด เจ้าเป็นคนดี คงนำข่าวดีมา”
43Nhưng Giô-na-than đáp với A-đô-ni-gia rằng: Thật trái hẳn. Vua Đa-vít, chúa chúng ta, đã lập Sa-lô-môn làm vua.
43โยนาธานตอบอาโดนียาห์ว่า “ความจริงคือ กษัตริย์ดาวิดเจ้านายของเราได้ตั้งโซโลมอนเป็นกษัตริย์แล้ว
44Vua có sai thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than, Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, người Kê-rê-thít cùng người Phê-lê-thít đi theo người, và họ đã đỡ người lên cỡi con la của vua.
44กษัตริย์ส่งศาโดกปุโรหิต นาธันผู้เผยพระวจนะ เบไนยาห์บุตรเยโฮยาดา ชาวเคเรธีและชาวเปเลธีไปกับเขา พวกเขาให้เขาขี่ล่อของกษัตริย์
45Đoạn, tại Ghi-hôn, thầy tế lễ Xa-đốc và tiên tri Na-than đã xức dầu cho người làm vua; họ đã từ đó trở lên cách reo mừng, và cả thành đều vang động. Đó là tiếng xôn xao mà các ông đã nghe.
45ศาโดกปุโรหิตกับนาธันผู้เผยพระวจนะเจิมเขาเป็นกษัตริย์ที่กีโฮน แล้วพวกเขาก็ขึ้นมาจากที่นั่นด้วยความยินดีจนทั้งเมืองส่งเสียงกึกก้อง นั่นคือเสียงที่พวกท่านได้ยิน
46Lại, Sa-lô-môn đã ngồi trên ngôi nước;
46อีกทั้งโซโลมอนนั่งบนบัลลังก์แห่งราชอาณาจักรแล้ว
47các tôi tớ của vua đến chúc phước cho vua Đa-vít, chúa chúng ta, mà tâu rằng: Nguyện Đức Chúa Trời của vua làm cho danh Sa-lô-môn tôn vinh hơn danh của vua, và khiến cho ngôi người cao trọng hơn ngôi của vua! Rồi vua cúi lạy nơi giường mình;
47ข้ารับใช้ของกษัตริย์ยังมาถวายพรแก่กษัตริย์ดาวิดเจ้านายของเราว่า ‘ขอพระเจ้าของพระองค์ทรงทำให้ชื่อของโซโลมอนยิ่งใหญ่กว่าชื่อของพระองค์ และบัลลังก์ของเขายิ่งใหญ่กว่าบัลลังก์ของพระองค์’ กษัตริย์ทรงก้มคำนับอยู่บนเตียง
48và có nói như vầy: Đáng khen ngợi thay Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì ngày nay Ngài có ban một người để ngồi trên ngôi của tôi mà mắt tôi xem thấy.
48แล้วกษัตริย์ตรัสว่า ‘ขอสรรเสริญพระยาห์เวห์พระเจ้าแห่งอิสราเอล ผู้ทรงให้มีคนหนึ่งนั่งบนบัลลังก์ของเราวันนี้ และให้เราได้เห็นกับตา’”
49Bấy giờ, hết thảy các người dự tiệc với A-đô-ni-gia đều bắt sợ hãi, đứng dậy, ai đi đường nấy.
49แขกทุกคนของอาโดนียาห์ตกใจกลัว ต่างลุกขึ้นแยกย้ายกันไป
50A-đô-ni-gia cũng sợ Sa-lô-môn, đứng dậy, chạy nắm các sừng bàn thờ.
50อาโดนียาห์กลัวโซโลมอน จึงลุกไปจับเขาของแท่นบูชาไว้
51Có người đến thuật cho Sa-lô-môn hay điều đó, rằng: Nầy, A-đô-ni-gia sợ vua Sa-lô-môn; kìa người đã nắm các sừng bàn thờ, mà nói rằng: Hôm nay, vua Sa-lô-môn hãy thề với tôi rằng vua sẽ không giết đầy tớ người bằng gươm.
51มีคนทูลโซโลมอนว่า “อาโดนียาห์กลัวกษัตริย์โซโลมอน เขากำลังจับเขาของแท่นบูชาไว้และพูดว่า ‘ขอให้กษัตริย์โซโลมอนสาบานกับข้าก่อนว่าจะไม่ประหารผู้รับใช้คนนี้ด้วยดาบ’”
52Sa-lô-môn đáp rằng: Nếu người ăn ở ra người tử tế, thì chẳng một sợi tóc nào của người sẽ rụng xuống đất; bằng có thấy sự ác nơi người, ắt người sẽ chết.
52โซโลมอนตรัสว่า “ถ้าเขาแสดงตนเป็นคนดี แม้เส้นผมของเขาสักเส้นก็จะไม่ตกถึงพื้น แต่ถ้าพบความชั่วในตัวเขา เขาจะต้องตาย”
53Vua Sa-lô-môn sai kẻ đem người xuống khỏi bàn thờ. A-đô-ni-gia đến sấp mình xuống trước mặt Sa-lô-môn; Sa-lô-môn bèn nói với người rằng: Hãy trở về nhà ngươi.
53กษัตริย์โซโลมอนจึงส่งคนไปรับเขาลงมาจากแท่นบูชา อาโดนียาห์มาก้มคำนับกษัตริย์โซโลมอน และโซโลมอนตรัสกับเขาว่า “กลับบ้านไปเถิด”
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.