I Vua 22
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Freedom Bible (Thai)
1Trong ba năm Sy-ri và Y-sơ-ra-ên không có giặc.
1ซีเรียกับอิสราเอลไม่มีสงครามกันเป็นเวลาสามปี
2Năm thứ ba, Giô-sa-phát, vua Giu-đa, đi đến cùng vua Y-sơ-ra-ên.
2ในปีที่สาม เยโฮชาฟัท กษัตริย์ยูดาห์เดินทางลงมาหากษัตริย์อิสราเอล
3Vua Y-sơ-ra-ên nói với tôi tớ mình rằng: Các ngươi há chẳng biết rằng Ra-mốt trong Ga-la-át thuộc về chúng ta sao? Chúng ta lại làm thinh chẳng rứt nó khỏi tay vua Sy-ri sao!
3กษัตริย์อิสราเอลพูดกับข้าราชการว่า “พวกเจ้ารู้ไหมว่าราโมทกิเลอาดเป็นของเรา แต่เรากลับไม่ทำอะไรเพื่อยึดคืนจากกษัตริย์ซีเรีย?”
4Đoạn, người nói với Giô-sa-phát rằng: Vua muốn đến cùng ta đặng đánh lấy Ra-mốt trong Ga-la-át chăng? Giô-sa-phát đáp với vua Y-sơ-ra-ên rằng: Tôi như ông; dân sự tôi như dân sự ông; và ngựa tôi như ngựa của ông.
4แล้วเขาถามเยโฮชาฟัทว่า “ท่านจะไปรบที่ราโมทกิเลอาดกับเราหรือไม่?” เยโฮชาฟัทตอบกษัตริย์อิสราเอลว่า “ข้าเป็นฝ่ายเดียวกับท่าน ประชาชนของข้าก็เหมือนประชาชนของท่าน ม้าของข้าก็เหมือนม้าของท่าน”
5Song Giô-sa-phát nói với vua Y-sơ-ra-ên rằng: Tôi xin ông phải cầu vấn Đức Giê-hô-va trước đã.
5เยโฮชาฟัทพูดกับกษัตริย์อิสราเอลว่า “โปรดทูลถามพระยาห์เวห์เพื่อขอพระดำรัสก่อน”
6Vậy, vua Y-sơ-ra-ên nhóm các tiên tri lại, số bốn trăm người, mà hỏi rằng: Ta có nên đi đánh Ra-mốt tại Ga-la-át, hay là chẳng nên đi? Chúng đáp rằng: Hãy đi lên; Chúa sẽ phó nó vào tay vua.
6กษัตริย์อิสราเอลจึงรวบรวมผู้เผยพระวจนะประมาณสี่ร้อยคนและถามว่า “เราควรไปรบที่ราโมทกิเลอาดหรือควรงด?” พวกเขาตอบว่า “ขึ้นไปเถิด เพราะองค์พระผู้เป็นเจ้าจะมอบเมืองนั้นไว้ในมือกษัตริย์”
7Nhưng Giô-sa-phát tiếp rằng: ỳ đây còn có đấng tiên tri nào khác của Đức Giê-hô-va để chúng ta cầu vấn người ấy chăng?
7แต่เยโฮชาฟัทถามว่า “ที่นี่ไม่มีผู้เผยพระวจนะของพระยาห์เวห์ให้เราทูลถามอีกหรือ?”
8Vua Y-sơ-ra-ên đáp với Giô-sa-phát rằng: Còn có một người, tên là Mi-chê, con trai của Giêm-la; nhờ người ấy ta có thể cầu vấn Đức Giê-hô-va; nhưng tôi ghét người, vì người chẳng nói tiên tri lành về tôi, bèn là dữ đó thôi. Giô-sa-phát nói rằng: Xin vua chớ nói như vậy.
8กษัตริย์อิสราเอลตอบเยโฮชาฟัทว่า “ยังมีอีกคนที่เราทูลถามพระยาห์เวห์ผ่านเขาได้ คือมีคายาห์บุตรอิมลาห์ แต่เราเกลียดเขา เพราะเขาไม่เคยเผยพระวจนะเรื่องดีเกี่ยวกับเรา มีแต่เรื่องร้าย” เยโฮชาฟัทตอบว่า “กษัตริย์อย่าตรัสเช่นนั้นเลย”
9Vua Y-sơ-ra-ên bèn đòi một hoạn quan mà bảo rằng: Hãy lập tức mời Mi-chê, con trai Giêm-la, đến.
9กษัตริย์อิสราเอลจึงเรียกข้าราชการคนหนึ่งและสั่งว่า “รีบไปพามีคายาห์บุตรอิมลาห์มา”
10Vả, vua Y-sơ-ra-ên và Giô-sa-phát, vua Giu-đa, mỗi người đều mặc đồ triều phục, đang ngồi trên một cái ngai tại trong sân đạp lúa, nơi cửa thành Sa-ma-ri; và hết thảy tiên tri nói tiên tri trước mặt hai vua.
10ขณะนั้นกษัตริย์อิสราเอลกับเยโฮชาฟัท กษัตริย์ยูดาห์สวมเสื้อคลุมกษัตริย์ นั่งบนบัลลังก์ของแต่ละคนที่ลานโล่งตรงทางเข้าประตูเมืองสะมาเรีย ผู้เผยพระวจนะทั้งหมดกำลังเผยพระวจนะต่อหน้าพวกเขา
11Sê-đê-kia, con trai Kê-na-na, làm lấy những sừng bằng sắt, và nói rằng: Đức giê-hô-va phán như vầy: Với các sừng này, ngươi sẽ báng dân Sy-ri cho đến khi diệt hết chúng nó.
11เศเดคียาห์บุตรเคนาอานาห์ทำเขาเหล็กไว้ แล้วพูดว่า “พระยาห์เวห์ตรัสว่า ‘ท่านจะใช้เขาเหล่านี้ขวิดชาวซีเรียจนพวกเขาพินาศ’”
12Và hết thảy tiên tri đều nói một cách, mà rằng: Hãy đi lên Ra-mốt trong Ga-la-át; vua sẽ được thắng, vì Đức Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay vua.
12ผู้เผยพระวจนะทุกคนก็เผยพระวจนะเช่นเดียวกันว่า “ขึ้นไปที่ราโมทกิเลอาดเถิด ท่านจะได้รับชัยชนะ เพราะพระยาห์เวห์จะมอบเมืองนั้นไว้ในมือกษัตริย์”
13Vả, sứ giả đã đi mời Mi-chê, nói cùng người rằng: Những tiên tri đều đồng lòng báo cáo sự lành cho vua; tôi xin ông cũng hãy lấy lời như lời của họ mà báo cáo điều lành.
13ทูตที่ไปเรียกมีคายาห์พูดกับเขาว่า “ดูเถิด ผู้เผยพระวจนะต่างพูดเป็นเสียงเดียวกันว่ากษัตริย์จะได้รับสิ่งดี โปรดพูดให้เหมือนพวกเขาและบอกเรื่องดี”
14Nhưng Mi-chê đáp rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, ta sẽ báo cáo điều gì Đức Giê-hô-va phán dặn ta.
14มีคายาห์ตอบว่า “ข้าขอสาบานโดยพระยาห์เวห์ผู้ทรงมีชีวิตอยู่ พระยาห์เวห์ตรัสอะไรกับข้า ข้าก็จะพูดตามนั้น”
15Khi người đã đến cùng vua, vua bèn hỏi rằng: Hỡi Mi-chê, chúng ta có nên đi hãm đánh Ra-mốt trong Ga-la-át, hay là chẳng nên đi? Mi-chê đáp: Hãy đi, vua sẽ được thắng: Đức Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay vua.
15เมื่อเขามาถึง กษัตริย์ถามว่า “มีคายาห์ เราควรไปรบที่ราโมทกิเลอาดหรือควรงด?” เขาตอบว่า “ขึ้นไปเถิด ท่านจะได้รับชัยชนะ พระยาห์เวห์จะมอบเมืองนั้นไว้ในมือกษัตริย์”
16Nhưng vua nói với người rằng: Biết bao lần ta đã lấy lời thề buộc ngươi chỉ khá nói chân thật với ta nhân danh Đức Giê-hô-va.
16กษัตริย์พูดกับเขาว่า “เราต้องให้เจ้าสาบานอีกกี่ครั้งว่าเจ้าจะพูดกับเราแต่ความจริงในพระนามของพระยาห์เวห์?”
17Bấy giờ Mi-chê đáp rằng: Tôi thấy cả Y-sơ-ra-ên bị tản lạc trên các núi, như bầy chiên không có người chăn; và Đức Giê-hô-va phán rằng: Những kẻ ấy không có chủ; ai nấy khá trở về nhà mình bình yên.
17มีคายาห์จึงพูดว่า “ข้าเห็นชาวอิสราเอลทั้งหมดกระจัดกระจายบนภูเขา เหมือนแกะที่ไม่มีผู้เลี้ยง พระยาห์เวห์ตรัสว่า ‘คนเหล่านี้ไม่มีเจ้านาย ให้แต่ละคนกลับบ้านอย่างสันติ’”
18Vua Y-sơ-ra-ên nói cùng Giô-sa-phát rằng: Tôi há chẳng có nói với vua rằng người chẳng nói tiên tri lành về việc tôi, bèn là nói tiên tri dữ sao?
18กษัตริย์อิสราเอลพูดกับเยโฮชาฟัทว่า “เราบอกท่านแล้วไม่ใช่หรือว่าเขาจะไม่เผยพระวจนะเรื่องดีเกี่ยวกับเรา มีแต่เรื่องร้าย?”
19Mi-chê lại tiếp: Vậy, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va: Tôi thấy Đức Giê-hô-va ngự trên ngôi Ngài và cả cơ binh trên trời đứng chầu Ngài bên hữu và bên tả.
19มีคายาห์พูดต่อว่า “เพราะฉะนั้นจงฟังพระดำรัสของพระยาห์เวห์ ข้าเห็นพระยาห์เวห์ประทับบนบัลลังก์ กองทัพสวรรค์ทั้งหมดยืนข้างพระองค์ทั้งขวาและซ้าย
20Đức Giê-hô-va phán hỏi: Ai sẽ đi dụ A-háp, để người đi lên Ra-mốt trong Ga-la-át, và ngã chết tại đó? Người trả lời cách này, kẻ trả lời cách khác.
20พระยาห์เวห์ตรัสว่า ‘ใครจะล่อให้อาหับยกทัพขึ้นไปและล้มตายที่ราโมทกิเลอาด?’ บ้างก็เสนออย่างหนึ่ง บ้างก็เสนออีกอย่างหนึ่ง
21Bấy giờ, có một thần ra đứng trước mặt Đức Giê-hô-va mà thưa rằng: Tôi sẽ đi dụ người. Đức Giê-hô-va phán hỏi thần rằng: Dụ cách nào?
21แล้ววิญญาณตนหนึ่งออกมายืนต่อหน้าพระยาห์เวห์และพูดว่า ‘ข้าจะล่อเขา’
22Thần thưa lại rằng: Tôi sẽ đi và làm một thần nói dối trong miệng những tiên tri của người. Đức Giê-hô-va phán rằng: Phải, ngươi sẽ dụ người được. Hãy đi và làm như ngươi đã nói.
22พระยาห์เวห์ตรัสถามว่า ‘อย่างไร?’ วิญญาณตอบว่า ‘ข้าจะออกไปเป็นวิญญาณแห่งการโกหกในปากผู้เผยพระวจนะทุกคนของเขา’ พระองค์ตรัสว่า ‘เจ้าจะล่อเขาได้และจะสำเร็จ ไปทำตามนั้น’
23Vậy bây giờ, kìa, Đức Giê-hô-va đã đặt một thần nói dối trong miệng các tiên tri vua, và Đức Giê-hô-va đã phán sự dữ cho vua.
23ฉะนั้นบัดนี้ พระยาห์เวห์ทรงให้วิญญาณแห่งการโกหกอยู่ในปากผู้เผยพระวจนะทั้งหมดของท่าน และพระยาห์เวห์ได้ตรัสถึงภัยที่จะเกิดแก่ท่าน”
24Bấy giờ, Sê-đê-kia, con trai của Kê-na-na, đến gần Mi-chê, vả vào má người, mà rằng: Thần của Đức Giê-hô-va có do đường nào lìa khỏi ta đặng đến nói với ngươi?
24เศเดคียาห์บุตรเคนาอานาห์เข้ามาตบแก้มมีคายาห์แล้วถามว่า “พระวิญญาณของพระยาห์เวห์ออกจากข้าไปทางไหนจึงไปพูดกับเจ้า?”
25Mi-chê đáp: Trong ngày ngươi chạy từ phòng này đến phòng kia đặng ẩn lánh, thì sẽ biết điều đó.
25มีคายาห์ตอบว่า “ท่านจะรู้ในวันที่ท่านเข้าไปซ่อนในห้องชั้นใน”
26Vua Y-sơ-ra-ên truyền lịnh rằng: Hãy bắt Mi-chê dẫn đến cho A-môn, quan cai thành, và cho Giô-ách, con trai của vua,
26กษัตริย์อิสราเอลสั่งว่า “จับมีคายาห์ส่งกลับไปหาอาโมนผู้ปกครองเมืองกับโยอาชบุตรของกษัตริย์
27rồi hãy nói rằng: Vua bảo như vầy: Hãy bỏ tù người này, lấy bánh và nước khổ nạn mà nuôi nó cho đến khi ta trở về bình an.
27บอกว่า ‘กษัตริย์สั่งให้ขังคนนี้ไว้ และให้กินขนมปังกับน้ำอย่างคนทุกข์ยากจนกว่าเราจะกลับมาโดยสวัสดิภาพ’”
28Mi-chê tiếp rằng: Nếu vua trở về bình an, thì Đức Giê-hô-va không cậy tôi phán. Người lại nói: Hỡi chúng dân! các ngươi khá nghe ta.
28มีคายาห์พูดว่า “ถ้าท่านกลับมาโดยสวัสดิภาพจริง พระยาห์เวห์ไม่ได้ตรัสผ่านข้า” แล้วเขาพูดว่า “ประชาชนทุกคน จงฟัง!”
29Vậy, vua Y-sơ-ra-ên đi lên Ra-mốt trong Ga-la-át với Giô-sa-phát, vua Giu-đa.
29กษัตริย์อิสราเอลกับเยโฮชาฟัท กษัตริย์ยูดาห์จึงยกทัพขึ้นไปที่ราโมทกิเลอาด
30Vua Y-sơ-ra-ên nói cùng Giô-sa-phát rằng: Tôi sẽ giả dạng ăn mặc, rồi ra trận; còn vua hãy mặc áo của vua. Như vậy, vua Y-sơ-ra-ên ăn mặc giả dạng mà ra trận.
30กษัตริย์อิสราเอลบอกเยโฮชาฟัทว่า “เราจะปลอมตัวเข้ารบ ส่วนท่านสวมเสื้อคลุมกษัตริย์ไว้” กษัตริย์อิสราเอลจึงปลอมตัวเข้ารบ
31Vả, vua Sỵ-ri đã truyền lịnh cho ba mươi hai quan coi xe mình rằng: Các ngươi chớ áp đánh ai bất k” lớn hay nhỏ, nhưng chỉ một mình vua Y-sơ-ra-ên mà thôi.
31กษัตริย์ซีเรียได้สั่งผู้บัญชาการรถรบทั้งสามสิบสองคนว่า “อย่ารบกับใครไม่ว่าจะมีตำแหน่งต่ำหรือสูง จงมุ่งรบกับกษัตริย์อิสราเอลเท่านั้น”
32Vậy, khi các quan coi xe thấy Giô-sa-phát thì nói rằng: Aáy quả thật là vua Y-sơ-ra-ên. Chúng bèn đến gần người đặng áp đánh; nhưng Giô-sa-phát kêu la lên.
32เมื่อผู้บัญชาการรถรบเห็นเยโฮชาฟัท พวกเขาก็พูดว่า “นี่ต้องเป็นกษัตริย์อิสราเอลแน่!” แล้วมุ่งเข้าไปโจมตี เยโฮชาฟัทจึงร้องตะโกน
33Khi các quan coi xe thấy chẳng phải vua Y-sơ-ra-ên, thì thối lại, không đuổi theo nữa.
33พอผู้บัญชาการรถรบเห็นว่าเขาไม่ใช่กษัตริย์อิสราเอล ก็เลิกไล่ตาม
34Bấy giờ, có một người tình cờ giương cung bắn vua Y-sơ-ra-ên, trúng nhằm người nơi giáp đâu lại. Vua nói cùng kẻ đánh xe mình rằng: Hãy quay cương lại, dẫn ta ra ngoài hàng quân, vì ta bị thương nặng.
34ชายคนหนึ่งยิงธนูไปโดยไม่เล็ง ลูกธนูถูกกษัตริย์อิสราเอลตรงรอยต่อของเกราะ เขาจึงสั่งคนขับรถรบว่า “หันรถกลับ พาเราออกจากสนามรบ เราบาดเจ็บหนัก”
35Nhưng trong ngày đó thế trận thêm dữ dội; có người nâng đỡ vua đứng trong xe mình đối địch dân Sy-ri. Đến chiều tối vua chết; huyết của vít thương người chảy xuống trong lòng xe.
35วันนั้นการรบยิ่งดุเดือดขึ้น กษัตริย์ถูกพยุงให้ยืนอยู่ในรถรบหันหน้าไปทางชาวซีเรีย และสิ้นชีวิตตอนเย็น เลือดจากบาดแผลไหลลงไปที่พื้นรถรบ
36Lối chiều, trong hàng quân có rao truyền rằng: Ai nấy hãy trở về thành mình, xứ mình.
36พอใกล้ตะวันตกดิน มีเสียงร้องประกาศไปทั่วกองทัพว่า “ทุกคนกลับเมืองของตน กลับแผ่นดินของตน!”
37Vua băng hà là như vậy; người ta đem thây vua về Sa-ma-ri, và chôn tại đó.
37กษัตริย์สิ้นชีวิตและถูกนำกลับไปสะมาเรีย พวกเขาฝังเขาไว้ที่นั่น
38Người ta rửa xe người tại trong ao Sa-ma-ri, là nơi những bợm buôn hương tắm, và có những chó liếm máu người, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán.
38พวกเขาล้างรถรบที่สระน้ำสะมาเรีย สุนัขเลียเลือดของเขาตรงที่หญิงโสเภณีอาบน้ำ ตามพระดำรัสของพระยาห์เวห์ที่ตรัสไว้
39Các chuyện khác của A-háp, những công việc người làm, cái đền bằng ngà người cất, và các thành người xây, đều chép trong sử ký về các vua Y-sơ-ra-ên.
39ส่วนเรื่องราวอื่น ๆ ของอาหับ ทั้งสิ่งที่เขาทำ พระราชวังงาช้างที่เขาสร้าง และเมืองต่าง ๆ ที่เขาสร้าง มีบันทึกไว้ในหนังสือพงศาวดารของกษัตริย์อิสราเอลไม่ใช่หรือ?
40Vậy A-háp an giấc cùng tổ phụ mình, và A-cha-xia, con trai người, kế vị người.
40อาหับล่วงลับไปอยู่กับบรรพบุรุษ อาหัสยาห์บุตรชายขึ้นครองราชย์แทน
41Năm thứ tư đời A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, thì Giô-sa-phát con trai A-sa, lên ngôi làm vua Giu-đa.
41เยโฮชาฟัทบุตรอาสาเริ่มครองราชย์เหนือยูดาห์ในปีที่สี่แห่งรัชกาลอาหับ กษัตริย์อิสราเอล
42Giô-sa-phát lên ngôi, tuổi được ba mươi lăm; người cai trị hai mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem. Tên của mẹ người là A-xu-ba, con gái của Si-chi.
42เยโฮชาฟัทอายุสามสิบห้าปีเมื่อเริ่มครองราชย์ และครองราชย์ในเยรูซาเล็มยี่สิบห้าปี มารดาของเขาชื่ออาซูบาห์บุตรสาวชิลฮี
43Người đi theo đường của A-sa, cha người, chẳng xây bỏ đi, song làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va. (022-44) Nhưng người không trừ bỏ các nơi cao; dân sự còn tế lễ và đốt hương tại trên các nơi cao.
43เขาดำเนินตามทางของอาสาบิดาทุกประการ ไม่หันเหจากทางนั้น และทำสิ่งที่ถูกต้องในสายพระเนตรของพระยาห์เวห์ แต่สถานบูชาบนที่สูงยังคงตั้งอยู่ ประชาชนยังคงถวายเครื่องบูชาและเผาเครื่องหอมที่นั่น
44(022-45) Giô-sa-phát và vua Y-sơ-ra-ên ở hòa hảo với nhau.
44เยโฮชาฟัททำสันติภาพกับกษัตริย์อิสราเอล
45(022-46) Các chuyện khác của Giô-sa-phát, dõng lực người, những giặc giã người, đều đã chép trong sử ký về các vua Giu-đa.
45ส่วนเรื่องราวอื่น ๆ ของเยโฮชาฟัท ทั้งความกล้าหาญและการศึกของเขา มีบันทึกไว้ในหนังสือพงศาวดารของกษัตริย์ยูดาห์ไม่ใช่หรือ?
46(022-47) Người trừ diệt những bợm vĩ-gian còn lại trong xứ từ đời A-sa, cha mình.
46เขากำจัดชายค้าประเวณีที่ยังเหลืออยู่จากสมัยอาสาบิดาออกจากแผ่นดิน
47(022-48) Bấy giờ, dân Ê-đôm không có vua, có một quan trấn thủ cai trị.
47ขณะนั้นเอโดมไม่มีกษัตริย์ มีผู้ว่าการปกครองแทน
48(022:49) Giô-sa-phát đóng một đoàn tàu Ta-rê-si đặng đi Ô-phia chở vàng, nhưng không đi đến đó được, bởi vì tàu vỡ ra tại Ê-xi-ôn-Ghê-be.
48เยโฮชาฟัทต่อเรือทาร์ชิชเพื่อไปนำทองจากโอฟีร์ แต่เรือไม่ได้ออกเดินทาง เพราะอับปางที่เอซีโอนเกเบอร์
49(022-50) A-cha-xia, con trai của A-háp, nói với Giô-sa-phát rằng: Hãy cho phép các đầy tớ ta đi tàu với các đầy tớ ông. Nhưng Giô-sa-phát không chịu.
49อาหัสยาห์บุตรอาหับพูดกับเยโฮชาฟัทว่า “ให้คนของข้าไปกับคนของท่านในเรือเถิด” แต่เยโฮชาฟัทไม่ยอม
50(022:51) Giô-sa-phát an giấc với tổ phụ mình, được chôn với họ trong thành Đa-vít, cha người, và Giô-ram, con trai người, kế vị người.
50เยโฮชาฟัทล่วงลับไปอยู่กับบรรพบุรุษและถูกฝังกับพวกเขาในนครของดาวิดบรรพบุรุษของเขา เยโฮรัมบุตรชายขึ้นครองราชย์แทน
51(022-52) Năm thứ bảy đời Giô-sa-phát, vua Giu-đa, thì A-cha-xia, con trai A-háp, lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri, và cai trị hai năm.
51อาหัสยาห์บุตรอาหับเริ่มครองราชย์เหนืออิสราเอลในสะมาเรียในปีที่สิบเจ็ดแห่งรัชกาลเยโฮชาฟัท กษัตริย์ยูดาห์ และครองราชย์เหนืออิสราเอลสองปี
52(022:53) Người làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, đi theo con đường của cha và mẹ mình, cùng theo đường của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là người xui cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
52เขาทำสิ่งชั่วร้ายในสายพระเนตรของพระยาห์เวห์ ดำเนินตามทางของบิดา มารดา และเยโรโบอัมบุตรเนบัท ผู้ทำให้อิสราเอลทำบาป
53(022:54) Người hầu việc Ba-anh và thờ lạy nó, chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, cứ theo mọi sự cha người cha người đã làm.
53เขารับใช้และนมัสการบาอัล ทำให้พระยาห์เวห์พระเจ้าแห่งอิสราเอลทรงโกรธ เช่นเดียวกับทุกสิ่งที่บิดาของเขาทำ
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.