I Vua 22
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Trong ba năm Sy-ri và Y-sơ-ra-ên không có giặc.
1Проминуло три роки й не було війни між Сириєю й Ізраїлем.
2Năm thứ ba, Giô-sa-phát, vua Giu-đa, đi đến cùng vua Y-sơ-ra-ên.
2У третьому ж роцї прибув Йосафат, царь Юдин, до царя Ізраїлського.
3Vua Y-sơ-ra-ên nói với tôi tớ mình rằng: Các ngươi há chẳng biết rằng Ra-mốt trong Ga-la-át thuộc về chúng ta sao? Chúng ta lại làm thinh chẳng rứt nó khỏi tay vua Sy-ri sao!
3(А промовив був царь Ізраїлський до своїх слуг: Чи ви знаєте, що Рамот Галаадський до нас належить? Ми же мовчимо, замість щоб одняти його у царя Сирийського.)
4Đoạn, người nói với Giô-sa-phát rằng: Vua muốn đến cùng ta đặng đánh lấy Ra-mốt trong Ga-la-át chăng? Giô-sa-phát đáp với vua Y-sơ-ra-ên rằng: Tôi như ông; dân sự tôi như dân sự ông; và ngựa tôi như ngựa của ông.
4І сказав він Йосафатові: Пійдеш зо мною на війну проти Рамоту Галаадського? І відказав Йосафат цареві Ізраїлському: Я хочу те, що й ти; мій люд як твій люд, мої конї як твої конї.
5Song Giô-sa-phát nói với vua Y-sơ-ra-ên rằng: Tôi xin ông phải cầu vấn Đức Giê-hô-va trước đã.
5І сказав Йосафат цареві Ізраїлському: Поспитай перше, що казати ме про те Господь.
6Vậy, vua Y-sơ-ra-ên nhóm các tiên tri lại, số bốn trăm người, mà hỏi rằng: Ta có nên đi đánh Ra-mốt tại Ga-la-át, hay là chẳng nên đi? Chúng đáp rằng: Hãy đi lên; Chúa sẽ phó nó vào tay vua.
6І зібрав царь Ізраїлський пророки, до чотирох сот чоловіка, і спитав їх: Чи йти менї проти Рамоту в Галаадї на війну, чи занехати се? Вони відказали: Йди, Господь оддасть їх на поталу цареві.
7Nhưng Giô-sa-phát tiếp rằng: ỳ đây còn có đấng tiên tri nào khác của Đức Giê-hô-va để chúng ta cầu vấn người ấy chăng?
7Йосафат же каже: Чи нема тут ще й пророка Господнього, щоб нам через його поспитати Господа?
8Vua Y-sơ-ra-ên đáp với Giô-sa-phát rằng: Còn có một người, tên là Mi-chê, con trai của Giêm-la; nhờ người ấy ta có thể cầu vấn Đức Giê-hô-va; nhưng tôi ghét người, vì người chẳng nói tiên tri lành về tôi, bèn là dữ đó thôi. Giô-sa-phát nói rằng: Xin vua chớ nói như vậy.
8Царь же Ізраїлський відказав Йосафатові: Є ще один тут такий, щоб через його можна поспитати в Господа, та я не люблю його, бо нїчого доброго менї не пророкує, а тільки лихе — се Михей Емблаєнко. Йосафат же каже: Не говори так, царю.
9Vua Y-sơ-ra-ên bèn đòi một hoạn quan mà bảo rằng: Hãy lập tức mời Mi-chê, con trai Giêm-la, đến.
9І покликав царь Ізраїлський одного скопця й повелїв: Ійди скоро по Михея Емблаєнка.
10Vả, vua Y-sơ-ra-ên và Giô-sa-phát, vua Giu-đa, mỗi người đều mặc đồ triều phục, đang ngồi trên một cái ngai tại trong sân đạp lúa, nơi cửa thành Sa-ma-ri; và hết thảy tiên tri nói tiên tri trước mặt hai vua.
10Тим часом царь Ізраїлський й Йосафат, царь Юдейський, одягнені в царські ризи, седїли на площі в воротях Самариї, кожен на престолї свойму, а всї пророки віщували перед ними:
11Sê-đê-kia, con trai Kê-na-na, làm lấy những sừng bằng sắt, và nói rằng: Đức giê-hô-va phán như vầy: Với các sừng này, ngươi sẽ báng dân Sy-ri cho đến khi diệt hết chúng nó.
11(Один з них) Седекія Хенааненко зробив собі зелїзні роги та й каже: Так говорить Господь: Сими виколеш ти Сирийцїв, поки їх не вигубиш.
12Và hết thảy tiên tri đều nói một cách, mà rằng: Hãy đi lên Ra-mốt trong Ga-la-át; vua sẽ được thắng, vì Đức Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay vua.
12І всї пророки віщували так само й мовляли: Іди на Рамат у Галаадї, пощастить тобі, Господь подасть його на поталу цареві.
13Vả, sứ giả đã đi mời Mi-chê, nói cùng người rằng: Những tiên tri đều đồng lòng báo cáo sự lành cho vua; tôi xin ông cũng hãy lấy lời như lời của họ mà báo cáo điều lành.
13Посланець же, що пійшов кликати Михею, каже йому: Знай, що пророки в один голос віщують цареві добро, нехай же й твоє слово пристає до гурту, віщуй і ти добро.
14Nhưng Mi-chê đáp rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, ta sẽ báo cáo điều gì Đức Giê-hô-va phán dặn ta.
14Михея ж відказав: Так певно, як Господь живе, тільки те, що глаголати ме Господь менї, казати му.
15Khi người đã đến cùng vua, vua bèn hỏi rằng: Hỡi Mi-chê, chúng ta có nên đi hãm đánh Ra-mốt trong Ga-la-át, hay là chẳng nên đi? Mi-chê đáp: Hãy đi, vua sẽ được thắng: Đức Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay vua.
15Як прийшов же він до царя, питає в його царь: Михею! чи нам ійти війною на Рамот Галаадський, чи се занехати? І відказав йому той: Йди, буде вдача тобі, й Господь оддасть його в руки цареві.
16Nhưng vua nói với người rằng: Biết bao lần ta đã lấy lời thề buộc ngươi chỉ khá nói chân thật với ta nhân danh Đức Giê-hô-va.
16Царь же промовив до його: Ще раз і ще раз заклинаю тебе, щоб ти менї в імя Господнє нїчого не говорив, тільки правду!
17Bấy giờ Mi-chê đáp rằng: Tôi thấy cả Y-sơ-ra-ên bị tản lạc trên các núi, như bầy chiên không có người chăn; và Đức Giê-hô-va phán rằng: Những kẻ ấy không có chủ; ai nấy khá trở về nhà mình bình yên.
17І сказав він: Я бачу всього Ізраїля розсипаного по горах, наче вівцї, що нема в їх пастуха. І каже Господь: Нема в їх пана; нехай байдужно вертається кожен додому.
18Vua Y-sơ-ra-ên nói cùng Giô-sa-phát rằng: Tôi há chẳng có nói với vua rằng người chẳng nói tiên tri lành về việc tôi, bèn là nói tiên tri dữ sao?
18І сказав царь Ізрайлїв Йосафатові: Чи не казав же я тобі, що він не віщує менї нїчого доброго, тільки лихе?
19Mi-chê lại tiếp: Vậy, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va: Tôi thấy Đức Giê-hô-va ngự trên ngôi Ngài và cả cơ binh trên trời đứng chầu Ngài bên hữu và bên tả.
19І каже (Михея): Вислухай же слово Господнє: Я бачив Господа седячого на престолї свойму й все військо небесне стоїть праворуч і лїворуч його;
20Đức Giê-hô-va phán hỏi: Ai sẽ đi dụ A-háp, để người đi lên Ra-mốt trong Ga-la-át, và ngã chết tại đó? Người trả lời cách này, kẻ trả lời cách khác.
20І промовив Господь: Хто підманив би Ахаба, щоб двинув у поле та й полїг під Рамотом у Галаадї? І сей говорив так, а той инакше.
21Bấy giờ, có một thần ra đứng trước mặt Đức Giê-hô-va mà thưa rằng: Tôi sẽ đi dụ người. Đức Giê-hô-va phán hỏi thần rằng: Dụ cách nào?
21Тодї виступив один дух, став перед Господом та й каже: Я підманю його. Господь же спитав: Чим?
22Thần thưa lại rằng: Tôi sẽ đi và làm một thần nói dối trong miệng những tiên tri của người. Đức Giê-hô-va phán rằng: Phải, ngươi sẽ dụ người được. Hãy đi và làm như ngươi đã nói.
22І відказав (дух): Я вийду та й зроблюсь духом ложним в устах його пророків. Господь же сказав: Ти зробиш те й підманиш його; йди й вчини так.
23Vậy bây giờ, kìa, Đức Giê-hô-va đã đặt một thần nói dối trong miệng các tiên tri vua, và Đức Giê-hô-va đã phán sự dữ cho vua.
23Оце ж Господь, як бачиш, вложив ув уста всїм твоїм пророкам ложнього духа; тим часом як Господь недобре про тебе виповів.
24Bấy giờ, Sê-đê-kia, con trai của Kê-na-na, đến gần Mi-chê, vả vào má người, mà rằng: Thần của Đức Giê-hô-va có do đường nào lìa khỏi ta đặng đến nói với ngươi?
24І приступив Седекія Хенааненко, ударив Михея по щоцї та й каже: Як то — чи ж від мене відойшов дух Господень, щоб говорити в тобі?
25Mi-chê đáp: Trong ngày ngươi chạy từ phòng này đến phòng kia đặng ẩn lánh, thì sẽ biết điều đó.
25Михей же промовив: Ти взнаєш про се того дня, як бігати меш із однієї комірки в другу, щоб сховатись.
26Vua Y-sơ-ra-ên truyền lịnh rằng: Hãy bắt Mi-chê dẫn đến cho A-môn, quan cai thành, và cho Giô-ách, con trai của vua,
26Царь же Ізрайлїв повелїв: Возьміте Михея й одведїте його до Амона, городського начальника, та до Йоаса царевича,
27rồi hãy nói rằng: Vua bảo như vầy: Hãy bỏ tù người này, lấy bánh và nước khổ nạn mà nuôi nó cho đến khi ta trở về bình an.
27І зʼясїть: Так говорить царь: Посадїть його в темницю та давайте йому хлїба скупо й води скупо, покіль я щасливо вернусь.
28Mi-chê tiếp rằng: Nếu vua trở về bình an, thì Đức Giê-hô-va không cậy tôi phán. Người lại nói: Hỡi chúng dân! các ngươi khá nghe ta.
28І промовив Михей: Коли вернешся щасливо, так не Господь говорив через мене. І сказав: Слухай, увесь народе!
29Vậy, vua Y-sơ-ra-ên đi lên Ra-mốt trong Ga-la-át với Giô-sa-phát, vua Giu-đa.
29От і двинув царь Ізраїлський з Йосафатом, царем Юдейським, на Рамот у Галаадї.
30Vua Y-sơ-ra-ên nói cùng Giô-sa-phát rằng: Tôi sẽ giả dạng ăn mặc, rồi ra trận; còn vua hãy mặc áo của vua. Như vậy, vua Y-sơ-ra-ên ăn mặc giả dạng mà ra trận.
30І каже царь Ізраїлський Йосафатові: Я переодягнусь та й пійду до бою, ти ж будь у своїй царській одежі. І переодягнувся царь Ізраїлський та й виступив до бою.
31Vả, vua Sỵ-ri đã truyền lịnh cho ba mươi hai quan coi xe mình rằng: Các ngươi chớ áp đánh ai bất k” lớn hay nhỏ, nhưng chỉ một mình vua Y-sơ-ra-ên mà thôi.
31Царь же Сирийський повелїв трийцятьом і двом отаманам своїх боєвих колесниць: Не вдаряйте нї на простого, нї на знатнього, тільки на одного царя Ізраїлського.
32Vậy, khi các quan coi xe thấy Giô-sa-phát thì nói rằng: Aáy quả thật là vua Y-sơ-ra-ên. Chúng bèn đến gần người đặng áp đánh; nhưng Giô-sa-phát kêu la lên.
32Отамани колесниць, побачивши Йосафата, подумали: Се мабуть царь Ізраїлський, й навернувши, вдарили на його, й закричав Йосафат.
33Khi các quan coi xe thấy chẳng phải vua Y-sơ-ra-ên, thì thối lại, không đuổi theo nữa.
33Скоро ж отамани колесниць постерегли, що се не царь Ізраїлський, одвернули від його.
34Bấy giờ, có một người tình cờ giương cung bắn vua Y-sơ-ra-ên, trúng nhằm người nơi giáp đâu lại. Vua nói cùng kẻ đánh xe mình rằng: Hãy quay cương lại, dẫn ta ra ngoài hàng quân, vì ta bị thương nặng.
34Один же чоловік напяв лука та й пустив навманя стрілу й пострілив царя Ізраїлського між легкими й жолудком. І повелїв він свойму візникові: Одвертай та вивозь мене з боєвого натовпу, бо мене поранено.
35Nhưng trong ngày đó thế trận thêm dữ dội; có người nâng đỡ vua đứng trong xe mình đối địch dân Sy-ri. Đến chiều tối vua chết; huyết của vít thương người chảy xuống trong lòng xe.
35Та битва того дня щораз більш закипала, й царь стояв у колесницї проти Сирийцїв, і вечером умер; кров із рани стїкала в колесницю.
36Lối chiều, trong hàng quân có rao truyền rằng: Ai nấy hãy trở về thành mình, xứ mình.
36І загукали під захід сонця в війську: Кожен, вертайсь у свій город і в свою землю!
37Vua băng hà là như vậy; người ta đem thây vua về Sa-ma-ri, và chôn tại đó.
37І вмер царь, і привезли його в Самарию та й поховали царя в Самариї.
38Người ta rửa xe người tại trong ao Sa-ma-ri, là nơi những bợm buôn hương tắm, và có những chó liếm máu người, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán.
38Як обмивали ж колесницю в ставу, лизали собаки кров його, а блудницї купались у їй, по слову, що глаголав Господь.
39Các chuyện khác của A-háp, những công việc người làm, cái đền bằng ngà người cất, và các thành người xây, đều chép trong sử ký về các vua Y-sơ-ra-ên.
39Прочі дїї Ахаба, й про се, що він чинив, і про будинок із слонової костї, що збудував, і про всї городи, що він утверджував, — про се сказано в лїтописній книзї царів Ізрайлевих.
40Vậy A-háp an giấc cùng tổ phụ mình, và A-cha-xia, con trai người, kế vị người.
40І спочив Ахаб із батьками своїми, а син його Охозія став намість його царем.
41Năm thứ tư đời A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, thì Giô-sa-phát con trai A-sa, lên ngôi làm vua Giu-đa.
41Йосафат Асенко став царем у Юдеї у четвертому роцї Ахаба, царя Ізраїлського.
42Giô-sa-phát lên ngôi, tuổi được ba mươi lăm; người cai trị hai mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem. Tên của mẹ người là A-xu-ba, con gái của Si-chi.
42Трийцять і пять год було віку Йосафатового, як зробивсь царем, а двайцять і пять год царював у Ерусалимі. Матїр його звали Азуба Салаїлівна.
43Người đi theo đường của A-sa, cha người, chẳng xây bỏ đi, song làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va. (022-44) Nhưng người không trừ bỏ các nơi cao; dân sự còn tế lễ và đốt hương tại trên các nơi cao.
43І ходив він усе дорогою батька свого Аси, не звертав з неї та чинив те, що Господеві до вподоби.
44(022-45) Giô-sa-phát và vua Y-sơ-ra-ên ở hòa hảo với nhau.
44Тільки висот не поруйновано, й все ще жертував і кадив люд на висотах.
45(022-46) Các chuyện khác của Giô-sa-phát, dõng lực người, những giặc giã người, đều đã chép trong sử ký về các vua Giu-đa.
45І держав Йосафат мир із царем Ізрайлевим.
46(022-47) Người trừ diệt những bợm vĩ-gian còn lại trong xứ từ đời A-sa, cha mình.
46Инші дїла Йосафатові, його хоробрі дїї, й як він воював, се прописано в книзї лїтописній царів Юдиних.
47(022-48) Bấy giờ, dân Ê-đôm không có vua, có một quan trấn thủ cai trị.
47Вигубив іще з землї останки блудників, що з часів отця його Аси зіставались.
48(022:49) Giô-sa-phát đóng một đoàn tàu Ta-rê-si đặng đi Ô-phia chở vàng, nhưng không đi đến đó được, bởi vì tàu vỡ ra tại Ê-xi-ôn-Ghê-be.
48Не було ж тодї царя в Едомі; наказний (намісник) був за царя.
49(022-50) A-cha-xia, con trai của A-háp, nói với Giô-sa-phát rằng: Hãy cho phép các đầy tớ ta đi tàu với các đầy tớ ông. Nhưng Giô-sa-phát không chịu.
49Йосафат побудував був і кораблї на морі, щоб ходити в Офир і привозити золото; та вони не дійшли, бо порозбивались ув Езійон-Габері.
50(022:51) Giô-sa-phát an giấc với tổ phụ mình, được chôn với họ trong thành Đa-vít, cha người, và Giô-ram, con trai người, kế vị người.
50Казав тодї Охозія Ахабенко Йосафатові: Нехай мої люде з твоїми людьми пливуть на кораблях. Йосафат же не схотїв.
51(022-52) Năm thứ bảy đời Giô-sa-phát, vua Giu-đa, thì A-cha-xia, con trai A-háp, lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri, và cai trị hai năm.
51І почив Йосафат з своїми отцями й поховано його коло отцїв його в Давидовому городї, предківському. А син його Йорам зробився царем намість його.
52(022:53) Người làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, đi theo con đường của cha và mẹ mình, cùng theo đường của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là người xui cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
52Охозія Ахабенко зробився царем у сїмнайцятому роцї Йосафатовому, царя Юдиного, й царював два роки над Ізраїлем в Самариї.
53(022:54) Người hầu việc Ba-anh và thờ lạy nó, chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, cứ theo mọi sự cha người cha người đã làm.
53І чинив він те, що було Господеві не до вподоби, й ходив дорогою батька свого й дорогою матері своєї й дорогою Еробоамовою Набатенковою, що доводив Ізраїля до гріхів.
no verse 54 in this text
54І служив він Баалові, й вбоготворяв його, й запалював гнїв Господа, Бога Ізрайлевого, так само, як і батько його чинив.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.