I Vua
Chapter 8
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Kulish and Puluj B…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Bấy giờ, Sa-lô-môn vời đến mình, ở tại Giê-ru-sa-lem, các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, hết thảy các quan trưởng của chi phái, và những trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên, đặng rước hòm giao ước của Đức Giê-hô-va từ thành của Đa-vít, tức là Si-ôn.
1Тодї скликав Соломон громадські мужі Ізрайлеві й всї голови в поколїннях, князї Ізраїлських родин, до себе в Ерусалим, щоб перенести скриню завіту Господнього з Давидового города, се є з Сиону.
2Trong lúc lễ, nhằm tháng Ê-tha-ninh, là tháng bảy, hết thảy người nam của Y-sơ-ra-ên đều nhóm lại cùng vua Sa-lô-môn.
2І позбірались до царя Соломона на сьвято усї Ізрайлитяни в місяцї Етанимі, — се семий місяць.
3Khi các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đã đến, thì những thầy tế lễ lấy hòm của Đức Giê-hô-va,
3І прибули всї громадські мужі Ізрайлеві, й взяли сьвященники скриню,
4dời đi luôn với Đền tạm và các khí dụng thánh ở trong Đền tạm. Những thầy tế lễ và người Lê-vi khiêng các đồ đó lên.
4І понесли скриню Господню й намет громадський, з усїм сьвятим знарядом, що був у наметї, й несли все сьвященники й левіти.
5Vua Sa-lô-môn và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đã hiệp với người, và đứng trước hòm, giết bò và chiên làm của lễ rất nhiều, không thế đếm được.
5Царь же Соломон і вся громада Ізраїльська, що при йому скупилась, ійшли перед скринею, тим часом як жертвовано воли й вівцї, стільки, що не зложити їм і лїку.
6Những thầy tế lễ đem hòm giao ước của Đức Giê-hô-va đến nơi nó, trong nơi chí thánh, dưới cánh chê-ru-bin.
6І внесли сьвященники скриню завіту Господнього на її місце, у Сьвяте Сьвятих під крила херувимів;
7Vì các chê-ru-bin giương cánh ra trên nơi để hòm, che thân trên hòm và các đòn khiêng.
7Бо херувими простирали крила над місцем скринї й прикривали скриню й носила її зверху.
8Các đòn khiêng dài, đến nỗi người ta, từ nơi thánh ở trước nơi chí thánh, có thể thấy được, nhưng ở ngoài thì chẳng thấy. Các đòn ấy ở đó cho đến ngày nay.
8А носила були такі довгі, що їх кінцї можна було бачити з сьвятинї, тільки з надвору не було їх видко. І зостаються вони там по сей день.
9Trong hòm chỉ có hai bảng đá mà Môi-se đã để, tại núi Hô-rếp, khi Đức Giê-hô-va lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên, lúc họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
9У скринї ж не було нїчого крім двох камяних таблиць, що зложив там Мойсей на Горебі, коли вчинив був Господь завіт із синами Ізрайлевими, як вийшли вони з Египту.
10Xảy khi những thầy tế lễ đã ra khỏi nơi thành, bèn có mây đầy dẫy nhà của Đức Giê-hô-va,
10Як же повиходили сьвященники із пресьвятої сьвятинї, сповнила хмара храмину Господню.
11đến nỗi những thầy tế lễ vì có mây ấy không thể đứng đó mà hầu việc được, vì sự vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền của Đức Giê-hô-va.
11І не могли сьвященники за хмарою стояти там і служити службу, бо храм Господень сповнився славою Господньою.
12Bấy giờ, Sa-lô-môn nguyện rằng: Đức Giê-hô-va có phán rằng Ngài ngự trong nơi tối tăm mờ mịt.
12Тодї промовив Соломон: Господь сказав, що пробувати ме в мрацї;
13Hỡi Đức Chúa Trời! tôi đã cất xong một cái đền dùng làm nơi ngự của Ngài, tức một nơi Ngài ở đời đời.
13Оце ж я построїв дім тобі на пробуток, місце, де ти вовіки жити будеш.
14Đoạn, vua xây mặt lại, và chúc phước cho hội chúng Y-sơ-ra-ên. Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đều đứng.
14І повернув царь лице своє й привітав благословеннєм усю громаду Ізрайлеву, як уся громада Ізрайлева стояла.
15Người nói rằng: Đáng ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì từ miệng Ngài có phán hứa với Đa-vít, cha ta, và bởi tay Ngài đã làm ứng nghiệm lời ấy; Ngài phán rằng:
15І промовив: Хвала Господеві, Богу Ізрайлевому, що глаголав устами своїми панотцеві мойму Давидові, й нинї справдив те рукою своєю! А глаголав тако:
16Từ ngày ta đã đem Y-sơ-ra-ên ta ra khỏi Ê-díp-tô, ta không chọn thành nào trong các chi phái Y-sơ-ra-ên đặng cất tại đó một cái nhà cho danh ta ngự; nhưng ta đã chọn Đa-vít để người trị vì dân Y-sơ-ra-ên ta.
16З того часу, як вивів я мій нарід Ізраїля з Египту, не вибрав я города нї в одному з поколїнь Ізрайлевих, щоб менї дом збудовано, де перебувало б імя моє, а вибрав Давида, щоб він був над моїм народом Ізраїлем.
17Vả, Đa-vít, cha ta, có ý cất một cái đền cho danh Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
17І було вже в мого паноця на думцї збудувати храм іменню Господа, Бога Ізрайлевого;
18Nhưng Đức Giê-hô-va có phán với Đa-vít, cha ta, rằng: Khi ngươi có ý xây đền cho danh ta, thì lấy làm thậm phải;
18Та Господь сказав панотцеві мойму Давидові: Що задумав єси збудувати храм іменню мойму, се добра в тебе думка,
19song ngươi sẽ chẳng cất đền ấy đâu, bèn là con trai ngươi, do lòng ngươi sanh ra, sẽ cất đền cho danh ta.
19Тільки ж не тобі будувати менї храм, а твойму синові, що вийшов із чересел твоїх, той збудує храм іменню мойму.
20Vậy, Đức Giê-hô-va đã làm ứng nghiệm lời Ngài phán; vì ta kế vị Đa-vít, cha ta, ngồi trên ngôi Y-sơ-ra-ên, y như Đức Giê-hô-va đã hứa, và ta đã cất đền này cho danh Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
20І справдив Господь слово своє, що виповів, бо я вступив на місце панотця мого Давида, й засїв на престолї Ізрайлевому, як обітував Господь, і збудував храм іменню Господа, Бога Ізрайлевого,
21Tại đó, ta đã dọn một chỗ để hòm; trong hòm có sự giao ước của Đức Giê-hô-va, tức là giao ước mà Ngài đã lập với tổ phụ chúng ta, khi Ngài đem họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
21І приладив місце на скриню, що в нїй завіт Господень, зложений ним із батьками нашими, як вивів їх із Египту.
22Kế đó, Sa-lô-môn đứng trước bàn thờ của Đức Giê-hô-va, đối mặt cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, bèn giơ tay lên trời, mà rằng:
22І приступив Соломон до жертівника Господнього поперед всієї громади Ізрайлевої, й зняв руки свої ʼд небу,
23Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! hoặc trên trời cao kia, hoặc dưới đất thấp này, chẳng có một thần nào giống như Chúa. Chúa giữ sự giao ước và lòng nhân từ với kẻ tôi tớ Chúa, là kẻ nào hết lòng đi ở trước mặt Chúa.
23І промовив: Господи, Боже Ізрайлїв! нема бога, що був би тобі рівня, нї на небі вгорі, нї на землї внизу. Ти хорониш заповіт і милость слугам твоїм, що ходять перед тобою з усього серця.
24Đối cùng tôi tớ Chúa, là Đa-vít, cha tôi, Chúa có giữ lời Ngài đã hứa với người. Thật, hễ điều chi miệng Chúa phán, thì tay Chúa đã làm hoàn thành, y như chúng tôi thấy ngày nay.
24Ти й кметеві твойму, панотцеві мойму Давидові, додержав того, що обітував йому; що устами твоїми глаголав єси, те сьогоднї рукою твоєю довершив єси.
25Vậy, hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ôi! ngày nay xin làm trọn lời Chúa đã hứa cùng tôi tớ Chúa, là Đa-vít, cha tôi, rằng: Nếu con cháu ngươi cẩn thận các đường lối mình, đi ở trước mặt ta, y như ngươi đã đi, thì trước mặt ta sẽ chẳng hề thiếu một kẻ hậu tự ngươi đặng ngồi trên ngôi nước Y-sơ-ra-ên đâu.
25Тепер же, ой Господи, Боже Ізрайлїв, додерж рабові твойму, мойму панотцеві Давидові, все що обітував єси йому словами: не переведеться у тебе передо мною седючий на престолї Ізрайлевому, аби тільки сини твої дбали на дорозї своїй про те, щоб ходити передо мною тим робом, яким ходив ти.
26Hỡi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! xin hãy làm cho ứng nghiệm lời Chúa đã hứa cùng kẻ tôi tớ Chúa, là Đa-vít, cha tôi.
26Справди ж, Боже Ізрайлїв, обітницю твою, що дав єси рабові твойму Давидові, отцеві мойму!
27Nhưng quả thật rằng Đức Chúa Trời ngự trên đất này chăng? Kìa, trời, dầu đến đỗi trời của các từng trời chẳng có thể chứa Ngài được thay, phương chi cái đền này tôi đã cất!
27Чи Богові ж бо справдї жити на землї? Небо й небо небес тебе не ʼбіймуть, атож би сей храм обняв, що збудовав я тобі?
28Dầu vậy, hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi! xin hãy đoái đến lời cầu nguyện và sự nài xin của kẻ tôi tớ Chúa. đặng nghe tiếng kêu cầu và khẩn nguyện mà kẻ tôi tớ Chúa cầu trước mặt Chúa ngày nay.
28Та зглянься на молитву й благаннє слуги твого, Господи, мій Боже, й почуй взиваннє й мольбу, що раб твій оце тебе вмоляє.
29Nguyện mắt của Chúa ngày và đêm đoái xem nhà nầy, là chỗ mà Chúa đã phán rằng: Danh ta sẽ ngự tại đó, đặng nghe lời cầu nguyện của tôi tớ Chúa hướng nơi này mà cầu.
29Нехай очі твої вночі й у день споглядають на храм сей, на се місце, що про його обітував єси: ймя моє буде там! Ой вислуховуй же молитви, якими раб твій на сьому місцї буде молитись!
30Phàm điều gì tôi tớ Chúa và dân Y-sơ-ra-ên của Chúa sẽ hướng về nơi này mà khẩn cầu, xin Chúa hãy dủ nghe; phải, ở nơi ngự của Chúa, tại trên các từng trời, xin Chúa dủ nghe, nhậm lời, và tha thứ cho.
30Вислуховуй мольбу слуги твого й народу твого Ізраїля, коли вони будуть молитись на сьому місцї. Вислуховуй в місцї пробутку твого, на небі, вислуховуй і милосердися!
31Khi ai phạm tội cùng kẻ lân cận mình, và người ta bắt ai đó phải thề, nếu người đến thề trước bàn thờ của Chúa, tại trong đền này,
31Коли хто провинить ближньому свойму й наложать на його божбу, щоб побожився, й прийде він, щоб поклястись, перед жертівника твого у сьому дому,
32thì xin Chúa ở trên trời hãy nghe, đối đãi và xét đoán tôi tớ Chúa, mà lên án cho kẻ dữ, khiến đường lối nó đổ lại trên đầu nó, và xưng công bình cho người công bình, và thưởng người tùy theo sự công bình của người.
32Тодї вислухай з неба й вчини присуд над слугами твоїми: скарай винного, обернувши справу його на його ж голову, безвинного ж оправди, давши йому по його правдї.
33Khi dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, vì cớ phạm tội với Chúa, bị kẻ thù nghịch đánh được; nếu chúng nó trở lại với Chúa, nhận biết danh Ngài và cầu nguyện nài xin với Chúa trong đền này,
33Коли твій нарід Ізраїль буде звойований ворогом, за те що провинив, відтак же обернуться вони до тебе й узнають імя твоє, та благати муть тебе в сьому дому,
34thì xin Chúa ở trên trời hãy dủ nghe, tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, và khiến họ trở về đất mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ.
34Тодї ти почуй з неба й прости гріхи твого народу Ізраїля, й приведи їх назад у ту землю, що надїлив єси батькам їх.
35Nếu các từng trời bị đóng chặt, không có mưa, bởi vì chúng nó đã phạm tội với Chúa, nếu chúng nó hướng về nơi này mà cầu nguyện, nhận biết danh Chúa, xây bỏ tội lỗi mình, sau khi Chúa đã đoán phạt họ,
35Коли небо буде замкнене й не крапне дощем за те, що провинять тобі, й коли молитись муть вони на сьому місцї й взнають імя твоє й навернуться від провини своєї, бо ти впокорив їх, —
36thì xin Chúa ở trên trời hãy dủ nghe, tha tội cho các tôi tớ Chúa, và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Xin hãy chỉ cho họ con đường thiện mà họ phải đi, và giáng mưa trên đất của Chúa đã ban cho dân Ngài làm sản nghiệp.
36Тодї почуй на небі, й прости гріхи слуг твоїх й народу твого Ізраїля, вказавши їм добру путь, щоб нею простували, й пошли дощ на землю твою, що надїлив єси народові твойму в наслїдню державу.
37Khi trong xứ xảy có đói kém, ôn dịch, hạn hán, ten sét, cào cào, châu chấu, hoặc có quân thù nghịch vây các thành của địa phận họ, hay là có tai vạ chi, tật bịnh gì;
37Коли постане голоднеча на землї, чи то помор, коли буде закажений воздух, засуха, ржа, або сарана, або черви, коли тїснити ме ворог у землї його, або буде яка нужда, чи хороба яка, —
38nếu có một người hoặc cả dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, ai nấy đã nhận biết tai họa của lòng mình, mà giơ tay ra hướng về đền này, và cầu nguyện, khẩn xin vô luận điều gì,
38Усяку молитву, взяке благаннє від якої людини з усього народу твого Ізраїля, коли вони почують горе в серцї свойму й простягнуть руки свої до сієї сьвятинї,
39thì xin Chúa ở trên trời, là nơi Chúa ngự, dủ nghe, và tha thứ cho, đối đãi, báo ứng mỗi người tùy theo công việc họ, vì Chúa thông biết lòng của họ (thật chỉ một mình Chúa biết lòng của con cái loài người),
39Почуй у небі, в місцї пробутку твого, й помилуй; вчини й відплати кожному по заслузї його, так як ти взнаєш серце його, один бо ти знаєш серце всїх синів людських: —
40để khiến họ kính sợ Chúa trọn đời họ sống ở trên đất mà Chúa đã ban cho tổ phụ chúng tôi.
40Щоб вони страхалися тебе по всї днї, покіль жиють на землї, що надїлив єси нашим батькам.
41Vả lại, về khách lạ, là người chẳng thuộc về dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, nhưng vì danh Ngài từ xứ xa đến
41Коли ж би чужениця, що не з твого народу Ізраїля, прийшов із далекого краю задля імення твого, —
42(vì người ngoại bang sẽ nghe nói về danh lớn của Chúa, về cánh tay quyền năng giơ thẳng ra của Chúa), khi người đến cầu nguyện trong nhà này,
42Бо вони чути муть про велике імя твоє, про твою руку потужну й простягнуту правицю, — коли б він прийшов і молився перед сим храмом,
43xin Chúa ở trên trời, là nơi Chúa ngự, dủ nghe và làm theo mọi điều người khách lạ sẽ cầu xin Chúa để cho muôn dân của thế gian nhận biết danh Chúa, kính sợ Chúa, y như dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, và cho biết rằng danh Chúa xưng ra trên đền này mà tôi đã xây cất.
43То почуй й його з неба, з місця, де престолуєш, і вчини все те, про що покликати ме до тебе чужениця, щоб усї народи на землї взнали ймя твоє, щоб і вони боялись тебе, як нарід твій Ізраїль, та щоб дознались, що ймям твоїм називається храм сей, що я збудував.
44Khi dân của Chúa đi chiến trận cùng quân thù nghịch mình, theo con đường Chúa đã sai đi, nếu họ cầu khẩn Đức Giê-hô-va xây mặt hướng về thành Chúa đã chọn, và về đền tôi đã cất cho danh Ngài,
44Коли вийде нарід твій на війну проти ворога свого тим шляхом, яким пошлеш його, й молити меться Господеві, обернувшись проти города, що вибрав єси, й проти храму, що я збудовав іменню твойму,
45thì xin Chúa ở trên trời, hãy dủ nghe các lời cầu nguyện nài xin của chúng, và binh vực quyền lợi cho họ.
45То почуй з неба молитву й благаннє їх і вдовольни їх.
46Khi chúng nó phạm tội cùng Chúa (vì không có người nào chẳng phạm tội) và Chúa nổi giận, phó chúng nó cho kẻ thù nghịch; khi họ bị bắt làm phu tù đến xứ của kẻ thù nghịch, hoặc xa hoặc gần,
46Коли вони провинять тобі — бо нема чоловіка без провини, — а ти в гнїву подаси їх на поталу ворогові, а той займе їх у полонь і відведе у ворожу землю, чи далеко чи близько,
47ví bằng trong xứ mà họ bị tù, họ nghĩ lại, ăn năn, và nài xin Chúa mà rằng: “Chúng tôi có phạm tội, làm điều gian ác, và cư xử cách dữ tợn;”
47І вони схаменуться в землї, куди зайнято їх у полонь, і навернуться і будуть молитись до тебе у землї їх нашийників і мовлятимуть: Ми провинили, ми безбожні, ми грішні,
48nhược bằng tại trong xứ mà thù nghịch đã dẫn họ đến làm phu tù, họ hết lòng hết ý trở lại cùng Chúa, cầu nguyện cùng Ngài, mặt hướng về xứ mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ, về thành mà Chúa đã chọn, và về đền mà tôi đã xây cất cho danh Chúa,
48І коли обернуться до тебе з усього серця й з усієї душі в ворожій землї, куди зайнято їх, і молити муться до тебе, обернувшись до землї, що надїлив єси батькам їх, до городу, що вибрав єси й до того дому, що збудував я йменню твойму,
49thì xin Chúa ở trên trời, tức nơi Chúa ngự, hãy dủ nghe lời cầu nguyện nài xin của họ, và binh vực quyền lợi cho họ;
49Тодї вислухай на небі, в місцї пробутку твого, їх молитву й благання і вчини, чого їм треба;
50tha cho dân Chúa tội lỗi và các sự trái mạng mà họ đã phạm cùng Ngài; xin Chúa khiến những kẻ bắt họ làm phu tù có lòng thương xót họ,
50І помилуй твій нарід, у чому провинили вони тобі, й прости всї переступи їх проти тебе, й нехай змилосердяться до них ті, що позаймали їх у полонь, і пожалують їх;
51vì dân Y-sơ-ra-ên vốn là dân sự Chúa, cơ nghiệp của Chúa, mà Chúa đã đem ra khỏi Ê-díp-tô, tức khỏi giữa lò sắt.
51Бо вони твій нарід і твоє наслїддє, що вивів їх єси з Египту, з тієї залїзної печі.
52Nguyện Chúa đoái xem kẻ tôi tớ Chúa và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, dủ nghe lời cầu nguyện nài xin của họ, mỗi lần họ kêu cầu cùng Chúa.
52Нехай (уші й) очі твої будуть отворені на благаннє слуги твого й на молитву народу твого Ізраїля, щоб вислуховувати їх завсїди, коли вони взивати муть до тебе;
53Hỡi Chúa Giê-hô-va ôi! Chúa đã phân cách họ khỏi các dân tộc trên đất, để họ làm cơ nghiệp Chúa, y như Chúa đã phán bởi miệng Môi-se, là tôi tớ Chúa, khi Chúa đem tổ phụ chúng tôi ra khỏi Ê-díp-tô.
53Бо ти вилучив їх у наслїддє собі з усїх народів на землї, як се сказав єси через слугу твого Мойсея, коли виводив єси батьків наших із Египту, Владико Господи!
54Khi Sa-lô-môn đã cầu với Đức Giê-hô-va những lời khẩn nguyện nài xin này xong, bèn đứng dậy trước bàn thờ Đức Giê-hô-va, khỏi nơi người đã quì, tay giơ lên trời.
54Як докінчив Соломон всї цї молитви й благання до Господа, піднявся він із перед жертівника Господнього, де стояв навколїшках із простягнутими у небо руками.
55Người đứng chúc phước lớn tiếng cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, mà rằng:
55І ставши благословив усю громаду Ізраїля грімким голосом сими словами:
56Đáng khen ngợi Đức Giê-hô-va, là Đấng đã ban sự bình yên cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, tùy theo các lời Ngài đã hứa! Về các lời tốt lành mà Ngài đã cậy miệng Môi-se, kẻ tôi tớ Ngài, phán ra, chẳng có một lời nào không ứng nghiệm.
56Благословен Господь, що надїлив нарід свій Ізраїля впокоєм, як обітував! Не зосталось марним нї одно слово з усїх величніх обітниць, що дав через раба свого Мойсея.
57Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi ở với chúng tôi, như Ngài đã ở cùng tổ phụ chúng tôi, chớ lìa, chớ bỏ chúng tôi;
57Нехай же буде з нами Бог наш, як він був із нашими батьками. Нехай не покидає нас і не відпихає нас.
58nguyện Ngài giục lòng chúng tôi hướng về Ngài, hầu chúng tôi đi trong mọi đường lối Ngài, giữ những điều răn, luật pháp, và mạng lịnh của Ngài đã truyền cho tổ phụ chúng tôi.
58Нехай прихиляє до себе серце наше, щоб ми ходили путьми його й пильнували заповідей його, установ його й законів його, що заповідав він батькам нашим.
59Ước gì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta ngày đêm dủ lòng nhớ đến các lời ta đã nài xin trước mặt Ngài, hầu cho tùy việc cần ngày nào theo ngày nấy, Đức Giê-hô-va binh vực quyền lợi của tôi tớ Ngài và của dân Y-sơ-ra-ên;
59І нехай будуть сї слова, що я промовив у молитві перед Господом, близькі Господеві, Богові нашому, в день і в ночі, щоб він подавав усе потрібне слузї свойму і народові свойму Ізраїлеві на всякий день,
60hầu cho muôn dân của thế gian biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, chớ chẳng có ai khác.
60Щоб усї народи на землї зрозуміли, що Господь є Богом, і нїхто инший;
61Vậy, các ngươi khá lấy lòng trọn lành đối với Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, để đi theo luật lệ Ngài và giữ gìn điều răn của Ngài, y như các ngươi đã làm ngày nay.
61І нехай серце ваше буде неподїльно віддане Господу, Богу нашому, щоб ми ходили в установах його і держали заповідї його, як се оце й дїється.
62Vua và cả Y-sơ-ra-ên đều dâng các của lễ tại trước mặt Đức Giê-hô-va.
62За сим царь і ввесь Ізраїль принесли жертву перед Господом.
63Sa-lô-môn dâng của lễ thù ân cho Đức Giê-hô-va, hai muôn hai ngàn con bò đực và mười hai muôn con chiên. Vua và cả dân Y-sơ-ra-ên đều dự lễ khánh thành đền của Đức Giê-hô-va là như vậy.
63І принїс Соломон на мирню жертву Господеві двайцять і дві тисячі волів а сто двайцять тисяч овець. Сим робом осьвятили храм Господень царь і всї Ізрайлитяне.
64Trong ngày đó, vua biệt riêng ra nơi chính giữa của hành lang ở trước đền thờ của Đức Giê-hô-va, vì tại đó người dâng các của lễ thiêu, của lễ chay, và mỡ về của lễ thù ân; bởi vì bàn thờ bằng đồng để trước đền của Đức Giê-hô-va là nhỏ quá, đựng các của lễ thiêu, của lễ chay, và mỡ về của lễ thù ân không đặng.
64Того ж дня осьвятив царь середню часть двора перед храмом Господнїм, приносячи там усепалення, й хлїбову жертву й товщ на жертву мирню; бо мідяний жертівник, що стояв перед Господом, був надто малий, щоб на йому помістити всепаленнє й хлїбову жертву й тук жертви мирньої.
65Trong lúc đó, Sa-lô-môn và cả dân Y-sơ-ra-ên, một hội chúng rất lớn, ở từ miền Ha-mát cho đến khe Ê-díp-tô, hiệp tại trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, mà giữ lễ trong bảy ngày, lại bảy ngày khác nữa, cộng mười bốn ngày.
65І справив Соломон того часу сьвято й ввесь Ізраїль із ним, — збір величезний, що зійшовся від входу в Етам аж до ріки Египетської, перед Господом, Богом нашим, через сїм день і ще сїм день, то є через чотирнайцять день.
66Ngày thứ tám, vua cho dân sự về; dân chúc phước cho vua, đi trở về trại mình, lấy làm mừng rỡ vui lòng về mọi sự tốt lành mà Đức Giê-hô-va đã làm cho Đa-vít, kẻ tôi tớ Ngài, và cho Y-sơ-ra-ên, dân sự của Ngài.
66На восьмий же день відпустив Соломон нарід. І благословили вони царя й розійшлись по домівках своїх, радїючи в серцї задля всього доброго, що виявив Господь слузї свойму Давидові й народові свойму Ізраїлеві.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.