I Vua 8
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Freedom Bible (Thai)
1Bấy giờ, Sa-lô-môn vời đến mình, ở tại Giê-ru-sa-lem, các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, hết thảy các quan trưởng của chi phái, và những trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên, đặng rước hòm giao ước của Đức Giê-hô-va từ thành của Đa-vít, tức là Si-ôn.
1ต่อมาโซโลมอนทรงเรียกประชุมผู้อาวุโสของอิสราเอล หัวหน้าเผ่าทุกเผ่า และผู้นำตระกูลของชาวอิสราเอล ให้มาเฝ้ากษัตริย์โซโลมอนที่เยรูซาเล็ม เพื่ออัญเชิญหีบพันธสัญญาของพระยาห์เวห์ขึ้นมาจากนครดาวิด คือศิโยน
2Trong lúc lễ, nhằm tháng Ê-tha-ninh, là tháng bảy, hết thảy người nam của Y-sơ-ra-ên đều nhóm lại cùng vua Sa-lô-môn.
2ชายอิสราเอลทุกคนมาชุมนุมกับกษัตริย์โซโลมอนในเทศกาลที่จัดในเดือนเอธานิม ซึ่งเป็นเดือนที่เจ็ด
3Khi các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đã đến, thì những thầy tế lễ lấy hòm của Đức Giê-hô-va,
3เมื่อผู้อาวุโสของอิสราเอลทุกคนมาถึง เหล่าปุโรหิตก็ยกหีบขึ้น
4dời đi luôn với Đền tạm và các khí dụng thánh ở trong Đền tạm. Những thầy tế lễ và người Lê-vi khiêng các đồ đó lên.
4พวกเขานำหีบของพระยาห์เวห์ เต็นท์แห่งการชุมนุม และเครื่องใช้ศักดิ์สิทธิ์ทุกชิ้นที่อยู่ในเต็นท์ขึ้นมา ปุโรหิตและชาวเลวีเป็นผู้นำสิ่งเหล่านี้ขึ้นมา
5Vua Sa-lô-môn và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đã hiệp với người, và đứng trước hòm, giết bò và chiên làm của lễ rất nhiều, không thế đếm được.
5กษัตริย์โซโลมอนกับชาวอิสราเอลทั้งหมดที่มาชุมนุมกับพระองค์อยู่ต่อหน้าหีบ ถวายแกะและวัวเป็นเครื่องบูชามากมายจนนับไม่ถ้วน
6Những thầy tế lễ đem hòm giao ước của Đức Giê-hô-va đến nơi nó, trong nơi chí thánh, dưới cánh chê-ru-bin.
6เหล่าปุโรหิตนำหีบพันธสัญญาของพระยาห์เวห์เข้าไปวางในที่ของมัน คือห้องชั้นในของพระวิหาร ห้องบริสุทธิ์ที่สุด ใต้ปีกของเครูบ
7Vì các chê-ru-bin giương cánh ra trên nơi để hòm, che thân trên hòm và các đòn khiêng.
7เครูบกางปีกเหนือที่วางหีบ ปีกของมันคลุมหีบและคานหามจากด้านบน
8Các đòn khiêng dài, đến nỗi người ta, từ nơi thánh ở trước nơi chí thánh, có thể thấy được, nhưng ở ngoài thì chẳng thấy. Các đòn ấy ở đó cho đến ngày nay.
8คานหามยาวจนเห็นปลายคานได้จากสถานที่บริสุทธิ์ซึ่งอยู่หน้าห้องชั้นใน แต่มองไม่เห็นจากภายนอก คานเหล่านั้นยังอยู่ที่นั่นจนถึงทุกวันนี้
9Trong hòm chỉ có hai bảng đá mà Môi-se đã để, tại núi Hô-rếp, khi Đức Giê-hô-va lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên, lúc họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
9ภายในหีบไม่มีสิ่งใดนอกจากแผ่นศิลาสองแผ่นที่โมเสสใส่ไว้ ณ โฮเรบ เมื่อพระยาห์เวห์ทรงทำพันธสัญญากับชาวอิสราเอลในคราวที่พวกเขาออกจากอียิปต์
10Xảy khi những thầy tế lễ đã ra khỏi nơi thành, bèn có mây đầy dẫy nhà của Đức Giê-hô-va,
10เมื่อปุโรหิตออกมาจากสถานที่บริสุทธิ์ เมฆก็เต็มพระวิหารของพระยาห์เวห์
11đến nỗi những thầy tế lễ vì có mây ấy không thể đứng đó mà hầu việc được, vì sự vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền của Đức Giê-hô-va.
11จนเหล่าปุโรหิตยืนปฏิบัติหน้าที่ไม่ได้เพราะเมฆนั้น เนื่องจากพระสิริของพระยาห์เวห์เต็มพระวิหาร
12Bấy giờ, Sa-lô-môn nguyện rằng: Đức Giê-hô-va có phán rằng Ngài ngự trong nơi tối tăm mờ mịt.
12แล้วโซโลมอนตรัสว่า “พระยาห์เวห์ตรัสว่าจะทรงประทับในความมืดทึบ
13Hỡi Đức Chúa Trời! tôi đã cất xong một cái đền dùng làm nơi ngự của Ngài, tức một nơi Ngài ở đời đời.
13ข้าพระองค์สร้างพระวิหารเป็นที่ประทับถวายพระองค์แล้ว เป็นสถานที่ให้พระองค์ประทับตลอดไป”
14Đoạn, vua xây mặt lại, và chúc phước cho hội chúng Y-sơ-ra-ên. Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đều đứng.
14กษัตริย์ทรงหันมาให้พรที่ประชุมชาวอิสราเอลทั้งหมด ขณะนั้นทุกคนยืนอยู่
15Người nói rằng: Đáng ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì từ miệng Ngài có phán hứa với Đa-vít, cha ta, và bởi tay Ngài đã làm ứng nghiệm lời ấy; Ngài phán rằng:
15พระองค์ตรัสว่า “ขอสรรเสริญพระยาห์เวห์พระเจ้าแห่งอิสราเอล ผู้ตรัสกับดาวิดบิดาของพวกท่านด้วยพระโอษฐ์ และทรงทำให้สำเร็จด้วยพระหัตถ์ของพระองค์ว่า
16Từ ngày ta đã đem Y-sơ-ra-ên ta ra khỏi Ê-díp-tô, ta không chọn thành nào trong các chi phái Y-sơ-ra-ên đặng cất tại đó một cái nhà cho danh ta ngự; nhưng ta đã chọn Đa-vít để người trị vì dân Y-sơ-ra-ên ta.
16‘ตั้งแต่วันที่เรานำประชาชนอิสราเอลของเราออกจากอียิปต์ เราไม่เคยเลือกเมืองใดจากเผ่าต่าง ๆ ของอิสราเอลเพื่อสร้างพระวิหารให้พระนามของเราอยู่ที่นั่น แต่เราเลือกดาวิดให้ปกครองประชาชนอิสราเอลของเรา’
17Vả, Đa-vít, cha ta, có ý cất một cái đền cho danh Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
17“ดาวิดบิดาของข้าเคยตั้งใจสร้างพระวิหารถวายแด่พระนามของพระยาห์เวห์พระเจ้าแห่งอิสราเอล
18Nhưng Đức Giê-hô-va có phán với Đa-vít, cha ta, rằng: Khi ngươi có ý xây đền cho danh ta, thì lấy làm thậm phải;
18แต่พระยาห์เวห์ตรัสกับดาวิดบิดาของข้าว่า ‘การที่เจ้าตั้งใจสร้างพระวิหารถวายแด่พระนามของเรานั้นเป็นเรื่องดี
19song ngươi sẽ chẳng cất đền ấy đâu, bèn là con trai ngươi, do lòng ngươi sanh ra, sẽ cất đền cho danh ta.
19ถึงกระนั้นเจ้าจะไม่ได้สร้างพระวิหาร บุตรที่สืบสายเลือดของเจ้าเองจะเป็นผู้สร้างพระวิหารถวายแด่พระนามของเรา’
20Vậy, Đức Giê-hô-va đã làm ứng nghiệm lời Ngài phán; vì ta kế vị Đa-vít, cha ta, ngồi trên ngôi Y-sơ-ra-ên, y như Đức Giê-hô-va đã hứa, và ta đã cất đền này cho danh Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
20พระยาห์เวห์ทรงทำตามพระดำรัสของพระองค์แล้ว ข้าได้ขึ้นมาแทนดาวิดบิดาของข้า นั่งบนบัลลังก์อิสราเอลตามที่พระยาห์เวห์ทรงสัญญา และสร้างพระวิหารถวายแด่พระนามของพระยาห์เวห์พระเจ้าแห่งอิสราเอล
21Tại đó, ta đã dọn một chỗ để hòm; trong hòm có sự giao ước của Đức Giê-hô-va, tức là giao ước mà Ngài đã lập với tổ phụ chúng ta, khi Ngài đem họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
21ข้าได้จัดที่ไว้สำหรับหีบซึ่งบรรจุพันธสัญญาของพระยาห์เวห์ ที่พระองค์ทรงทำกับบรรพบุรุษของเราเมื่อนำพวกเขาออกจากอียิปต์”
22Kế đó, Sa-lô-môn đứng trước bàn thờ của Đức Giê-hô-va, đối mặt cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, bèn giơ tay lên trời, mà rằng:
22โซโลมอนทรงยืนต่อหน้าแท่นบูชาของพระยาห์เวห์ โดยมีที่ประชุมชาวอิสราเอลทั้งหมดอยู่ด้วย และชูพระหัตถ์ขึ้นสู่ฟ้า
23Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! hoặc trên trời cao kia, hoặc dưới đất thấp này, chẳng có một thần nào giống như Chúa. Chúa giữ sự giao ước và lòng nhân từ với kẻ tôi tớ Chúa, là kẻ nào hết lòng đi ở trước mặt Chúa.
23พระองค์ทูลว่า “ข้าแต่พระยาห์เวห์พระเจ้าแห่งอิสราเอล ไม่มีพระเจ้าองค์ใดเหมือนพระองค์ ทั้งในฟ้าเบื้องบนหรือบนแผ่นดินเบื้องล่าง พระองค์ทรงรักษาพันธสัญญาและความเมตตาต่อผู้รับใช้ที่ดำเนินต่อพระพักตร์พระองค์อย่างสุดใจ
24Đối cùng tôi tớ Chúa, là Đa-vít, cha tôi, Chúa có giữ lời Ngài đã hứa với người. Thật, hễ điều chi miệng Chúa phán, thì tay Chúa đã làm hoàn thành, y như chúng tôi thấy ngày nay.
24พระองค์ทรงรักษาสัญญาที่ประทานแก่ดาวิดบิดาของข้าพระองค์ผู้รับใช้ของพระองค์ พระองค์ตรัสด้วยพระโอษฐ์และทรงทำให้สำเร็จด้วยพระหัตถ์ ดังที่เห็นในวันนี้
25Vậy, hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ôi! ngày nay xin làm trọn lời Chúa đã hứa cùng tôi tớ Chúa, là Đa-vít, cha tôi, rằng: Nếu con cháu ngươi cẩn thận các đường lối mình, đi ở trước mặt ta, y như ngươi đã đi, thì trước mặt ta sẽ chẳng hề thiếu một kẻ hậu tự ngươi đặng ngồi trên ngôi nước Y-sơ-ra-ên đâu.
25บัดนี้ ข้าแต่พระยาห์เวห์พระเจ้าแห่งอิสราเอล ขอทรงรักษาสัญญาที่ประทานแก่ดาวิดบิดาของข้าพระองค์ว่า ‘เจ้าจะไม่ขาดผู้สืบเชื้อสายนั่งบนบัลลังก์อิสราเอลต่อหน้าเรา ถ้าบุตรหลานของเจ้าระวังทางที่ตนดำเนิน โดยดำเนินต่อหน้าเราเหมือนที่เจ้าได้ดำเนิน’
26Hỡi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! xin hãy làm cho ứng nghiệm lời Chúa đã hứa cùng kẻ tôi tớ Chúa, là Đa-vít, cha tôi.
26“บัดนี้ ข้าแต่พระเจ้าแห่งอิสราเอล ขอให้พระดำรัสที่พระองค์ตรัสกับดาวิดบิดาของข้าพระองค์ผู้รับใช้ของพระองค์เป็นจริง
27Nhưng quả thật rằng Đức Chúa Trời ngự trên đất này chăng? Kìa, trời, dầu đến đỗi trời của các từng trời chẳng có thể chứa Ngài được thay, phương chi cái đền này tôi đã cất!
27แต่พระเจ้าจะทรงประทับบนแผ่นดินโลกจริงหรือ? แม้ฟ้าและฟ้าสูงสุดยังรองรับพระองค์ไม่ได้ แล้วพระวิหารที่ข้าพระองค์สร้างนี้จะรองรับพระองค์ได้อย่างไร!
28Dầu vậy, hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi! xin hãy đoái đến lời cầu nguyện và sự nài xin của kẻ tôi tớ Chúa. đặng nghe tiếng kêu cầu và khẩn nguyện mà kẻ tôi tớ Chúa cầu trước mặt Chúa ngày nay.
28ถึงอย่างนั้น ข้าแต่พระยาห์เวห์พระเจ้าของข้าพระองค์ ขอทรงใส่พระทัยคำอธิษฐานและคำวิงวอนของผู้รับใช้ของพระองค์ ฟังเสียงร้องและคำอธิษฐานที่ผู้รับใช้ทูลต่อพระองค์วันนี้
29Nguyện mắt của Chúa ngày và đêm đoái xem nhà nầy, là chỗ mà Chúa đã phán rằng: Danh ta sẽ ngự tại đó, đặng nghe lời cầu nguyện của tôi tớ Chúa hướng nơi này mà cầu.
29ขอพระเนตรของพระองค์เฝ้าดูพระวิหารนี้ทั้งกลางวันและกลางคืน คือสถานที่ที่พระองค์ตรัสว่า ‘พระนามของเราจะอยู่ที่นั่น’ เพื่อฟังคำอธิษฐานที่ผู้รับใช้ทูลโดยหันมายังที่แห่งนี้
30Phàm điều gì tôi tớ Chúa và dân Y-sơ-ra-ên của Chúa sẽ hướng về nơi này mà khẩn cầu, xin Chúa hãy dủ nghe; phải, ở nơi ngự của Chúa, tại trên các từng trời, xin Chúa dủ nghe, nhậm lời, và tha thứ cho.
30ขอทรงฟังคำวิงวอนของผู้รับใช้และประชาชนอิสราเอลของพระองค์เมื่อพวกเขาอธิษฐานโดยหันมายังที่แห่งนี้ ขอทรงฟังจากฟ้าซึ่งเป็นที่ประทับของพระองค์ และเมื่อทรงฟังแล้วก็โปรดให้อภัย
31Khi ai phạm tội cùng kẻ lân cận mình, và người ta bắt ai đó phải thề, nếu người đến thề trước bàn thờ của Chúa, tại trong đền này,
31“ถ้าคนหนึ่งทำบาปต่อเพื่อนบ้าน แล้วถูกกำหนดให้ต้องสาบาน เขาจึงมาสาบานต่อหน้าแท่นบูชาของพระองค์ในพระวิหารนี้
32thì xin Chúa ở trên trời hãy nghe, đối đãi và xét đoán tôi tớ Chúa, mà lên án cho kẻ dữ, khiến đường lối nó đổ lại trên đầu nó, và xưng công bình cho người công bình, và thưởng người tùy theo sự công bình của người.
32ขอทรงฟังจากฟ้า ลงมือพิพากษาผู้รับใช้ของพระองค์ ให้คนชั่วรับผลแห่งการกระทำของตนเอง และให้คนชอบธรรมพ้นผิดโดยได้รับตามความชอบธรรมของเขา
33Khi dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, vì cớ phạm tội với Chúa, bị kẻ thù nghịch đánh được; nếu chúng nó trở lại với Chúa, nhận biết danh Ngài và cầu nguyện nài xin với Chúa trong đền này,
33“เมื่อประชาชนอิสราเอลของพระองค์พ่ายแพ้แก่ศัตรูเพราะทำบาปต่อพระองค์ หากพวกเขาหันกลับมาหาพระองค์ ยอมรับพระนามของพระองค์ อธิษฐานและวิงวอนต่อพระองค์ในพระวิหารนี้
34thì xin Chúa ở trên trời hãy dủ nghe, tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, và khiến họ trở về đất mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ.
34ขอทรงฟังจากฟ้า ให้อภัยบาปของประชาชนอิสราเอลของพระองค์ และนำพวกเขากลับสู่ดินแดนที่พระองค์ประทานแก่บรรพบุรุษ
35Nếu các từng trời bị đóng chặt, không có mưa, bởi vì chúng nó đã phạm tội với Chúa, nếu chúng nó hướng về nơi này mà cầu nguyện, nhận biết danh Chúa, xây bỏ tội lỗi mình, sau khi Chúa đã đoán phạt họ,
35“เมื่อท้องฟ้าปิด ไม่มีฝนเพราะพวกเขาทำบาปต่อพระองค์ หากพวกเขาอธิษฐานโดยหันมายังที่แห่งนี้ ยอมรับพระนามของพระองค์ และหันกลับจากบาปเมื่อพระองค์ทรงทำให้พวกเขาทุกข์ยาก
36thì xin Chúa ở trên trời hãy dủ nghe, tha tội cho các tôi tớ Chúa, và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Xin hãy chỉ cho họ con đường thiện mà họ phải đi, và giáng mưa trên đất của Chúa đã ban cho dân Ngài làm sản nghiệp.
36ขอทรงฟังจากฟ้า ให้อภัยบาปของผู้รับใช้และประชาชนอิสราเอลของพระองค์ สอนพวกเขาให้รู้ทางที่ดีซึ่งควรดำเนิน แล้วส่งฝนลงบนแผ่นดินที่พระองค์ประทานให้ประชาชนเป็นมรดก
37Khi trong xứ xảy có đói kém, ôn dịch, hạn hán, ten sét, cào cào, châu chấu, hoặc có quân thù nghịch vây các thành của địa phận họ, hay là có tai vạ chi, tật bịnh gì;
37“ถ้าเกิดการกันดารอาหารในแผ่นดิน เกิดโรคระบาด พืชเหี่ยวแห้ง โรคราน้ำค้าง ตั๊กแตนหรือหนอนกัดกินพืช หรือศัตรูล้อมเมืองใด ๆ ในดินแดนของพวกเขา ไม่ว่าจะเกิดภัยพิบัติหรือโรคใด
38nếu có một người hoặc cả dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, ai nấy đã nhận biết tai họa của lòng mình, mà giơ tay ra hướng về đền này, và cầu nguyện, khẩn xin vô luận điều gì,
38เมื่อคนใดคนหนึ่งหรือประชาชนอิสราเอลของพระองค์ทั้งหมด ซึ่งแต่ละคนรู้ความทุกข์ในใจของตน อธิษฐานและวิงวอนโดยชูมือมาทางพระวิหารนี้
39thì xin Chúa ở trên trời, là nơi Chúa ngự, dủ nghe, và tha thứ cho, đối đãi, báo ứng mỗi người tùy theo công việc họ, vì Chúa thông biết lòng của họ (thật chỉ một mình Chúa biết lòng của con cái loài người),
39ขอทรงฟังจากฟ้าซึ่งเป็นที่ประทับของพระองค์ ให้อภัย ลงมือช่วย และตอบแทนแต่ละคนตามการกระทำทุกอย่างของเขา พระองค์ทรงรู้จักใจของเขา เพราะมีเพียงพระองค์เท่านั้นที่ทรงรู้จักใจของมนุษย์ทุกคน
40để khiến họ kính sợ Chúa trọn đời họ sống ở trên đất mà Chúa đã ban cho tổ phụ chúng tôi.
40เพื่อพวกเขาจะยำเกรงพระองค์ตลอดเวลาที่อาศัยอยู่ในแผ่นดินที่พระองค์ประทานแก่บรรพบุรุษของเรา
41Vả lại, về khách lạ, là người chẳng thuộc về dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, nhưng vì danh Ngài từ xứ xa đến
41“ส่วนคนต่างชาติซึ่งไม่ใช่ประชาชนอิสราเอลของพระองค์ เมื่อเขามาจากแดนไกลเพราะพระนามของพระองค์
42(vì người ngoại bang sẽ nghe nói về danh lớn của Chúa, về cánh tay quyền năng giơ thẳng ra của Chúa), khi người đến cầu nguyện trong nhà này,
42เพราะผู้คนจะได้ยินถึงพระนามอันยิ่งใหญ่ พระหัตถ์อันทรงฤทธิ์ และพระกรที่เหยียดออกของพระองค์ เมื่อคนต่างชาตินั้นมาอธิษฐานโดยหันมายังพระวิหารนี้
43xin Chúa ở trên trời, là nơi Chúa ngự, dủ nghe và làm theo mọi điều người khách lạ sẽ cầu xin Chúa để cho muôn dân của thế gian nhận biết danh Chúa, kính sợ Chúa, y như dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, và cho biết rằng danh Chúa xưng ra trên đền này mà tôi đã xây cất.
43ขอทรงฟังจากฟ้าซึ่งเป็นที่ประทับของพระองค์ และทำตามทุกสิ่งที่คนต่างชาติทูลขอ เพื่อชนทุกชาติบนแผ่นดินโลกจะรู้จักพระนามและยำเกรงพระองค์อย่างประชาชนอิสราเอลของพระองค์ และรู้ว่าพระวิหารที่ข้าพระองค์สร้างนี้ได้ชื่อว่าเป็นของพระองค์
44Khi dân của Chúa đi chiến trận cùng quân thù nghịch mình, theo con đường Chúa đã sai đi, nếu họ cầu khẩn Đức Giê-hô-va xây mặt hướng về thành Chúa đã chọn, và về đền tôi đã cất cho danh Ngài,
44“หากประชาชนของพระองค์ออกไปรบกับศัตรูตามทางที่พระองค์ทรงส่งพวกเขาไป และพวกเขาอธิษฐานต่อพระยาห์เวห์โดยหันมายังเมืองที่พระองค์ทรงเลือกและพระวิหารที่ข้าพระองค์สร้างถวายแด่พระนามของพระองค์
45thì xin Chúa ở trên trời, hãy dủ nghe các lời cầu nguyện nài xin của chúng, và binh vực quyền lợi cho họ.
45ขอทรงฟังคำอธิษฐานและคำวิงวอนของพวกเขาจากฟ้า และทรงรักษาความเป็นธรรมให้แก่พวกเขา
46Khi chúng nó phạm tội cùng Chúa (vì không có người nào chẳng phạm tội) và Chúa nổi giận, phó chúng nó cho kẻ thù nghịch; khi họ bị bắt làm phu tù đến xứ của kẻ thù nghịch, hoặc xa hoặc gần,
46หากพวกเขาทำบาปต่อพระองค์ เพราะไม่มีมนุษย์คนใดไม่ทำบาป แล้วพระองค์ทรงกริ้วและมอบพวกเขาให้ศัตรูจนถูกกวาดต้อนเป็นเชลยไปยังดินแดนของศัตรู ไม่ว่าไกลหรือใกล้
47ví bằng trong xứ mà họ bị tù, họ nghĩ lại, ăn năn, và nài xin Chúa mà rằng: “Chúng tôi có phạm tội, làm điều gian ác, và cư xử cách dữ tợn;”
47แต่ถ้าในดินแดนที่ถูกกวาดต้อนไปนั้น พวกเขาสำนึกผิด หันกลับมา และวิงวอนต่อพระองค์ในดินแดนของผู้จับพวกเขาไป โดยพูดว่า ‘พวกเราได้ทำบาป ทำผิด และประพฤติชั่ว’
48nhược bằng tại trong xứ mà thù nghịch đã dẫn họ đến làm phu tù, họ hết lòng hết ý trở lại cùng Chúa, cầu nguyện cùng Ngài, mặt hướng về xứ mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ, về thành mà Chúa đã chọn, và về đền mà tôi đã xây cất cho danh Chúa,
48ถ้าพวกเขาหันกลับมาหาพระองค์ด้วยสุดใจสุดจิตในดินแดนของศัตรูที่กวาดต้อนพวกเขาไป และอธิษฐานต่อพระองค์โดยหันมายังดินแดนที่พระองค์ประทานแก่บรรพบุรุษ เมืองที่พระองค์ทรงเลือก และพระวิหารที่ข้าพระองค์สร้างถวายแด่พระนามของพระองค์
49thì xin Chúa ở trên trời, tức nơi Chúa ngự, hãy dủ nghe lời cầu nguyện nài xin của họ, và binh vực quyền lợi cho họ;
49ขอทรงฟังคำอธิษฐานและคำวิงวอนของพวกเขาจากฟ้าซึ่งเป็นที่ประทับของพระองค์ และทรงรักษาความเป็นธรรมให้แก่พวกเขา
50tha cho dân Chúa tội lỗi và các sự trái mạng mà họ đã phạm cùng Ngài; xin Chúa khiến những kẻ bắt họ làm phu tù có lòng thương xót họ,
50ขอทรงให้อภัยประชาชนของพระองค์ที่ทำบาปต่อพระองค์ และให้อภัยการละเมิดทุกอย่างของพวกเขา ขอทรงให้ผู้ที่กวาดต้อนพวกเขาไปเกิดความเมตตาต่อพวกเขา
51vì dân Y-sơ-ra-ên vốn là dân sự Chúa, cơ nghiệp của Chúa, mà Chúa đã đem ra khỏi Ê-díp-tô, tức khỏi giữa lò sắt.
51เพราะพวกเขาเป็นประชาชนและมรดกของพระองค์ ที่พระองค์นำออกจากอียิปต์ ออกจากเตาหลอมเหล็ก
52Nguyện Chúa đoái xem kẻ tôi tớ Chúa và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, dủ nghe lời cầu nguyện nài xin của họ, mỗi lần họ kêu cầu cùng Chúa.
52ขอพระเนตรของพระองค์เฝ้าดูคำวิงวอนของผู้รับใช้และประชาชนอิสราเอลของพระองค์ และทรงฟังทุกครั้งที่พวกเขาร้องทูล
53Hỡi Chúa Giê-hô-va ôi! Chúa đã phân cách họ khỏi các dân tộc trên đất, để họ làm cơ nghiệp Chúa, y như Chúa đã phán bởi miệng Môi-se, là tôi tớ Chúa, khi Chúa đem tổ phụ chúng tôi ra khỏi Ê-díp-tô.
53เพราะพระองค์ทรงแยกพวกเขาออกจากชนทุกชาติบนแผ่นดินโลกให้เป็นมรดกของพระองค์ ตามที่ตรัสผ่านโมเสสผู้รับใช้ของพระองค์ เมื่อนำบรรพบุรุษของเราออกจากอียิปต์ ข้าแต่องค์พระผู้เป็นเจ้า พระยาห์เวห์”
54Khi Sa-lô-môn đã cầu với Đức Giê-hô-va những lời khẩn nguyện nài xin này xong, bèn đứng dậy trước bàn thờ Đức Giê-hô-va, khỏi nơi người đã quì, tay giơ lên trời.
54เมื่อโซโลมอนอธิษฐานและวิงวอนต่อพระยาห์เวห์จนจบ พระองค์ทรงลุกขึ้นจากท่าคุกเข่ากางพระหัตถ์สู่ฟ้าต่อหน้าแท่นบูชาของพระยาห์เวห์
55Người đứng chúc phước lớn tiếng cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, mà rằng:
55พระองค์ยืนขึ้นและให้พรที่ประชุมชาวอิสราเอลทั้งหมดด้วยเสียงดังว่า
56Đáng khen ngợi Đức Giê-hô-va, là Đấng đã ban sự bình yên cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, tùy theo các lời Ngài đã hứa! Về các lời tốt lành mà Ngài đã cậy miệng Môi-se, kẻ tôi tớ Ngài, phán ra, chẳng có một lời nào không ứng nghiệm.
56“ขอสรรเสริญพระยาห์เวห์ ผู้ประทานความสงบแก่ประชาชนอิสราเอลของพระองค์ตามที่ทรงสัญญาไว้ พระสัญญาอันดีทุกคำที่ตรัสผ่านโมเสสผู้รับใช้ของพระองค์สำเร็จทั้งหมด ไม่มีคำใดล้มเหลว
57Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi ở với chúng tôi, như Ngài đã ở cùng tổ phụ chúng tôi, chớ lìa, chớ bỏ chúng tôi;
57ขอพระยาห์เวห์พระเจ้าของเราทรงอยู่กับเราเหมือนที่ทรงอยู่กับบรรพบุรุษของเรา ขออย่าทรงจากไปหรือทอดทิ้งเรา
58nguyện Ngài giục lòng chúng tôi hướng về Ngài, hầu chúng tôi đi trong mọi đường lối Ngài, giữ những điều răn, luật pháp, và mạng lịnh của Ngài đã truyền cho tổ phụ chúng tôi.
58ขอทรงทำให้ใจของเราหันมาหาพระองค์ เพื่อดำเนินตามทางทุกอย่างของพระองค์ และรักษาพระบัญญัติ กฎเกณฑ์ และข้อกำหนดที่พระองค์ทรงสั่งบรรพบุรุษของเรา
59Ước gì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta ngày đêm dủ lòng nhớ đến các lời ta đã nài xin trước mặt Ngài, hầu cho tùy việc cần ngày nào theo ngày nấy, Đức Giê-hô-va binh vực quyền lợi của tôi tớ Ngài và của dân Y-sơ-ra-ên;
59ขอให้คำวิงวอนที่ข้ากล่าวต่อพระยาห์เวห์นี้อยู่เบื้องพระพักตร์พระยาห์เวห์พระเจ้าของเราทั้งกลางวันและกลางคืน เพื่อพระองค์จะทรงรักษาความเป็นธรรมให้แก่ผู้รับใช้ของพระองค์และประชาชนอิสราเอลของพระองค์ตามความจำเป็นในแต่ละวัน
60hầu cho muôn dân của thế gian biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, chớ chẳng có ai khác.
60เพื่อชนทุกชาติบนแผ่นดินโลกจะรู้ว่าพระยาห์เวห์คือพระเจ้า ไม่มีพระเจ้าอื่นอีก
61Vậy, các ngươi khá lấy lòng trọn lành đối với Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, để đi theo luật lệ Ngài và giữ gìn điều răn của Ngài, y như các ngươi đã làm ngày nay.
61“ดังนั้นจงมีใจภักดีต่อพระยาห์เวห์พระเจ้าของเราอย่างเต็มเปี่ยม ดำเนินตามกฎเกณฑ์และรักษาพระบัญญัติของพระองค์เหมือนที่ทำในวันนี้”
62Vua và cả Y-sơ-ra-ên đều dâng các của lễ tại trước mặt Đức Giê-hô-va.
62กษัตริย์และชาวอิสราเอลทั้งหมดที่อยู่กับพระองค์ถวายเครื่องบูชาต่อพระยาห์เวห์
63Sa-lô-môn dâng của lễ thù ân cho Đức Giê-hô-va, hai muôn hai ngàn con bò đực và mười hai muôn con chiên. Vua và cả dân Y-sơ-ra-ên đều dự lễ khánh thành đền của Đức Giê-hô-va là như vậy.
63โซโลมอนถวายวัวสองหมื่นสองพันตัวและแกะหนึ่งแสนสองหมื่นตัวเป็นเครื่องบูชาสันติสุขแด่พระยาห์เวห์ กษัตริย์และชาวอิสราเอลทั้งหมดจึงถวายพระวิหารของพระยาห์เวห์ให้เป็นสถานที่ศักดิ์สิทธิ์
64Trong ngày đó, vua biệt riêng ra nơi chính giữa của hành lang ở trước đền thờ của Đức Giê-hô-va, vì tại đó người dâng các của lễ thiêu, của lễ chay, và mỡ về của lễ thù ân; bởi vì bàn thờ bằng đồng để trước đền của Đức Giê-hô-va là nhỏ quá, đựng các của lễ thiêu, của lễ chay, và mỡ về của lễ thù ân không đặng.
64ในวันนั้นกษัตริย์ทรงทำให้บริเวณกลางลานหน้าพระวิหารของพระยาห์เวห์เป็นที่ศักดิ์สิทธิ์ เพราะพระองค์ถวายเครื่องบูชาเผาทั้งตัว เครื่องธัญบูชา และไขมันของเครื่องบูชาสันติสุขที่นั่น เนื่องจากแท่นบูชาทองสัมฤทธิ์ต่อพระพักตร์พระยาห์เวห์เล็กเกินกว่าจะรองรับเครื่องบูชาเหล่านั้น
65Trong lúc đó, Sa-lô-môn và cả dân Y-sơ-ra-ên, một hội chúng rất lớn, ở từ miền Ha-mát cho đến khe Ê-díp-tô, hiệp tại trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, mà giữ lễ trong bảy ngày, lại bảy ngày khác nữa, cộng mười bốn ngày.
65ครั้งนั้นโซโลมอนและชาวอิสราเอลทั้งหมดซึ่งเป็นที่ประชุมใหญ่ ตั้งแต่ทางเข้าเมืองฮามัทจนถึงลำธารอียิปต์ จัดเทศกาลต่อพระพักตร์พระยาห์เวห์พระเจ้าของเราเจ็ดวันและอีกเจ็ดวัน รวมเป็นสิบสี่วัน
66Ngày thứ tám, vua cho dân sự về; dân chúc phước cho vua, đi trở về trại mình, lấy làm mừng rỡ vui lòng về mọi sự tốt lành mà Đức Giê-hô-va đã làm cho Đa-vít, kẻ tôi tớ Ngài, và cho Y-sơ-ra-ên, dân sự của Ngài.
66ในวันที่แปดพระองค์ส่งประชาชนกลับ พวกเขาถวายพรแก่กษัตริย์แล้วกลับไปยังเต็นท์ของตนด้วยความยินดีและเบิกบานใจ เพราะความดีทุกอย่างที่พระยาห์เวห์ทรงทำต่อดาวิดผู้รับใช้ของพระองค์และต่อประชาชนอิสราเอลของพระองค์
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.