Giáo 9
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
1Nầy là các việc khác mà ta đã suy nghĩ và chuyên lòng hiểu rõ ràng: ta thấy người công bình và khôn ngoan, luôn với việc làm của họ, đều ở trong tay Đức Chúa Trời; hoặc sự yêu hay là sự ghét, loài người chẳng biết rõ: thảy đều thuộc về cuộc tương lai.
1Pois apliquei o meu coração a tudo isso, para investigar tudo isso: que os justos, os sábios e as suas obras estão nas mãos de Deus; se é amor ou ódio, o homem não sabe; tudo está diante deles.
2Mọi sự xảy đến cho mọi người như nhau: người công bình hay là kẻ hung ác, người hiền lành, thanh sạch, hay là người không thanh sạch, người dâng của tế lễ hay là người không dâng, người thiện hay là kẻ có tội, kẻ phát thề hay là người sợ lời thề, cả thảy đều đồng hưởng một số phận.
2Todas as coisas acontecem igualmente a todos. Há um mesmo destino para o justo e para o ímpio; para o bom, para o puro e para o impuro, para o que oferece sacrifícios e para o que não oferece. Como é o bom, assim é o pecador; aquele que faz um juramento é como aquele que teme fazer um juramento.
3Tai nạn lớn hơn dưới mặt trời, ấy là mọi người đồng gặp một số phận, lòng loài người đầy dẫy sự hung ác, và sự điên cuồng choán trong lòng họ đương khi sống, rồi họ đi về cùng kẻ chết.
3Este é um mal em tudo o que se faz debaixo do sol: que há um mesmo destino para todos. Sim, também o coração dos filhos dos homens está cheio de maldade, e a loucura está em seu coração enquanto vivem, e depois disso eles vão para os mortos.
4Một người ở trong hội kẻ sống, còn có sự trông mong; vì con chó sống hơn là sư tử chết.
4Pois para aquele que está unido a todos os vivos há esperança; porque um cão vivo é melhor do que um leão morto.
5Kẻ sống biết mình sẽ chết; nhưng kẻ chết chẳng biết chi hết, chẳng được phần thưởng gì hết; vì sự kỷ niệm họ đã bị quên đi.
5Pois os vivos sabem que morrerão, mas os mortos não sabem de nada, nem têm mais nenhuma recompensa; pois a memória deles foi esquecida.
6Sự yêu, sự ghét, sự ganh gỗ của họ thảy đều tiêu mất từ lâu; họ chẳng hề còn có phần nào về mọi điều làm ra dưới mặt trời.
6Também o seu amor, o seu ódio e a sua inveja já pereceram há muito tempo; nem têm eles mais porção alguma, para sempre, em tudo o que se faz debaixo do sol.
7Hãy đi ăn bánh cách vui mừng, và uống rượu cách hớn hở; vì Đức Chúa Trời đã nhận các công việc ngươi.
7Siga o seu caminho — coma o seu pão com alegria, e beba o seu vinho com um coração alegre; pois Deus já aceitou as suas obras.
8Khá hằng mặc áo trắng, chớ thiếu dầu thơm trên đầu ngươi.
8Que as suas vestes sejam sempre brancas, e não deixe faltar óleo sobre a sua cabeça.
9Trọn các ngày của đời hư không ngươi, mà Đức Chúa Trời ban cho ngươi dưới mặt trời, hãy ở vui vẻ cùng vợ mình yêu dấu; vì đó là phần của ngươi trong đời nầy, và là điều ngươi được bởi công lao mình làm ở dưới mặt trời.
9Viva alegremente com a esposa que você ama todos os dias da sua vida de vaidade, os quais ele lhe deu debaixo do sol, todos os seus dias de vaidade; pois essa é a sua porção na vida, e no seu trabalho com o qual você labuta debaixo do sol.
10Mọi việc tay ngươi làm được, hãy làm hết sức mình; vì dưới âm phủ, là nơi ngươi đi đến, chẳng có việc làm, chẳng có mưu kế, cũng chẳng có tri thức, hay là sự khôn ngoan.
10Tudo o que a sua mão encontrar para fazer, faça-o com todas as suas forças; pois não há obra, nem plano, nem conhecimento, nem sabedoria, no Seol, para onde você vai.
11Ta xây lại thấy dưới mặt trời có kẻ lẹ làng chẳng được cuộc chạy đua, người mạnh sức chẳng được thắng trận, kẻ khôn ngoan không đặng bánh, kẻ thông sáng chẳng hưởng của cải, và người khôn khéo chẳng được ơn; vì thời thế và cơ hội xảy đến cho mọi người.
11Voltei-me e vi debaixo do sol que a corrida não é dos velozes, nem a batalha dos fortes, nem o pão dos sábios, nem as riquezas dos homens de entendimento, nem o favor dos homens habilidosos; mas o tempo e o acaso acontecem a todos eles.
12Lại, loài người chẳng hiểu biết thời thế của mình: như cá mắc lưới, chim phải bẫy dò thể nào, thì loài người cũng bị vấn vương trong thời tai họa xảy đến thình lình thể ấy.
12Pois o homem também não conhece o seu tempo. Como os peixes que são apanhados em uma rede maligna, e como os pássaros que são pegos na armadilha, assim também os filhos dos homens são enlaçados em um tempo mau, quando este cai de repente sobre eles.
13Ta cũng đã thấy sự khôn ngoan nầy dưới mặt trời, thật lấy làm cả thể.
13Também vi a sabedoria debaixo do sol desta maneira, e ela me pareceu grande.
14Có thành nhỏ kia được một ít dân sự, một vua cường thạnh đến vây hãm nó, đắp những lũy cao lớn cùng nó.
14Havia uma pequena cidade, com poucos homens dentro dela; e um grande rei veio contra ela, a cercou e construiu grandes baluartes contra ela.
15Vả, trong thành ấy có một người nghèo mà khôn, dùng sự khôn ngoan mình giải cứu thành ấy; song về sau không ai nhớ đến người nghèo đó.
15Ora, encontrou-se nela um homem pobre e sábio, e ele, pela sua sabedoria, livrou a cidade; contudo, ninguém se lembrou daquele mesmo homem pobre.
16Ta bèn nói rằng: Sự khôn ngoan hơn sức mạnh; nhưng mà sự khôn ngoan của người nghèo bị khinh dể, và lời nói của người không ai nghe.
16Então eu disse: “A sabedoria é melhor do que a força.” No entanto, a sabedoria do homem pobre é desprezada, e as suas palavras não são ouvidas.
17Lời của người khôn ngoan được nghe tại nơi êm lặng còn hơn tiếng kêu la của kẻ cai trị trong đám dại dột.
17As palavras dos sábios ouvidas em silêncio são melhores do que o grito daquele que governa entre os tolos.
18Sự khôn ngoan hơn đồ binh khí; nhưng chỉ một người có tội phá hủy được nhiều sự lành.
18A sabedoria é melhor do que as armas de guerra; mas um só pecador destrói muito do que é bom.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.