Giô-na
Chapter 1

Giô-na

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Bíblia Portuguesa …
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
1Có lời Đức Giê-hô-va phán cho Giô-na con trai A-mi-tai như vầy:
1A palavra do SENHOR veio a Jonas, filho de Amitai, dizendo:
2Ngươi khá chổi dậy! Hãy đi đến thành lớn Ni-ni-ve, và kêu la nghịch cùng nó; vì tội ác chúng nó đã lên thấu trước mặt ta.
2“Levante-se, vá à grande cidade de Nínive e pregue contra ela, porque a sua maldade subiu diante de mim.”
3Nhưng Giô-na chổi dậy đặng trốn qua Ta-rê-si, để lánh khỏi mặt Đức Giê-hô-va. Người xuống đến Gia-phô, gặp một chiếc tàu đi Ta-rê-si. Người trả tiền quá giang, và xuống tàu đặng đi Ta-rê-si với họ, để khỏi mặt Đức Giê-hô-va.
3Mas Jonas se levantou para fugir da presença do SENHOR para Társis. Ele desceu a Jope e encontrou um navio que ia para Társis; então pagou a passagem e desceu para dentro dele, para ir com eles para Társis, para longe da presença do SENHOR.
4Nhưng Đức Giê-hô-va khiến gió lớn thổi trên biển; trên biển có trận bão lớn, chiếc tàu hầu vỡ.
4Mas o SENHOR mandou um grande vento sobre o mar, e houve uma tempestade tão violenta no mar, que o navio estava a ponto de se despedaçar.
5Những thủy thủ đều sợ hãi, ai nấy kêu cầu thần của mình. Đoạn, họ quăng những đồ đạc trong tàu xuống biển, để cho nhẹ tàu. Giô-na đã xuống dưới lòng tàu, nằm và ngủ mê.
5Então os marinheiros ficaram com medo, e cada um clamou ao seu deus. Eles lançaram a carga que estava no navio ao mar para aliviá-lo. Jonas, porém, havia descido às partes mais profundas do navio, havia se deitado e dormia profundamente.
6Chủ tàu bèn đến gần người và bảo rằng: Hỡi người ngủ kia, làm sao vậy? Khá chờ dậy! Hãy kêu cầu Đức Chúa Trời ngươi. Có lẽ Đức Chúa Trời sẽ tưởng đến chúng ta, thì chúng ta khỏi chết.
6Então o capitão do navio aproximou-se dele e lhe disse: “O que há com você, dorminhoco? Levante-se, clame ao seu Deus! Talvez o seu Deus se lembre de nós, para que não pereçamos.”
7Kế đó, chúng nói cùng nhau rằng: Hãy đến, chúng ta hãy bắt thăm, để cho biết tai vạ nầy đến cho chúng ta là vì cớ ai. Vậy họ bắt thăm, và thăm trúng nhằm Giô-na.
7Eles disseram uns aos outros: “Venham! Vamos lançar sortes, para que possamos saber quem é o responsável por este mal que está sobre nós.” Então lançaram sortes, e a sorte caiu sobre Jonas.
8Bấy giờ họ nói cùng người rằng: Khá cho chúng ta biết vì điều chi mà tai vạ nầy đến trên chúng ta. Ngươi làm nghề gì, và từ đâu mà đến? Xứ ngươi ở đâu, ngươi thuộc về dân nào?
8Então lhe perguntaram: “Diga-nos, por favor, por causa de quem este mal está sobre nós? Qual é a sua ocupação? De onde você vem? Qual é o seu país? E de que povo você é?”
9Người trả lời rằng: Ta là người Hê-bơ-rơ, và ta kính sợ, Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời trên trời, Ngài đã làm nên biển và đất khô.
9Ele lhes respondeu: “Eu sou hebreu e temo ao SENHOR, o Deus dos céus, que fez o mar e a terra seca.”
10Những người ấy cả sợ, và bảo người rằng: Ngươi đã làm việc gì đó? Bấy giờ họ đã biết rằng người trốn khỏi mặt Đức Giê-hô-va; vì người đã khai ra cho họ.
10Então os homens ficaram com muito medo e lhe disseram: “O que você fez?” Pois os homens sabiam que ele estava fugindo da presença do SENHOR, porque ele lhes tinha contado.
11Vậy họ nói rằng: Chúng ta sẽ làm gì về ngươi, hầu cho biển yên lặng cho chúng ta? Vì biển càng động thêm mãi.
11Então lhe perguntaram: “O que devemos fazer com você, para que o mar se acalme para nós?” Pois o mar ficava cada vez mais tempestuoso.
12Người trả lời rằng: Hãy bắt lấy ta; hãy ném ta xuống biển, thì biển yên lặng cho các anh; vì ta biết rằng ấy là vì cớ ta mà các anh đã gặp phải trận bão lớn nầy.
12Ele lhes disse: “Peguem-me e lancem-me ao mar. Então o mar se acalmará para vocês; pois eu sei que é por minha causa que esta grande tempestade está sobre vocês.”
13Những người ấy bắt tay chèo vào bờ; song không được, vì biển càng nổi lên nghịch cùng họ mãi.
13Apesar disso, os homens remaram com força para voltar à terra; mas não conseguiram, pois o mar ficava cada vez mais tempestuoso contra eles.
14Họ bèn kêu cầu Đức Giê-hô-va mà rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, chúng tôi nài xin Ngài, chúng tôi nài xin Ngài chớ làm cho chúng tôi chết vì cớ mạng sống của người nầy, và chớ khiến máu vô tội đổ lại trên chúng tôi! Hỡi Đức Giê-hô-va, vì chính Ngài là Đấng đã làm điều mình muốn.
14Por isso, clamaram ao SENHOR e disseram: “Nós te imploramos, ó SENHOR, nós te imploramos, não nos deixes morrer por causa da vida deste homem, e não ponhas sobre nós sangue inocente; pois tu, ó SENHOR, fizeste como te agradou.”
15Đoạn họ bắt Giô-na, quăng xuống biển, thì sự giận dữ của biển yên lặng.
15Então pegaram Jonas e o lançaram ao mar; e o mar cessou a sua fúria.
16Vì vậy mà những người ấy rất kính sợ Đức Giê-hô-va. Họ dâng của lễ cho Đức Giê-hô-va, và hứa nguyện cùng Ngài.
16Então os homens temeram grandemente ao SENHOR; ofereceram um sacrifício ao SENHOR e fizeram votos.
17(02-1) Đức Giê-hô-va sắm sửa một con cá lớn đặng nuốt Giô-na; Giô-na ở trong bụng cá ba ngày ba đêm.
17O SENHOR preparou um grande peixe para engolir Jonas, e Jonas esteve no ventre do peixe três dias e três noites.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.