Giáo 7
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Danh tiếng hơn dầu quí giá; ngày chết hơn ngày sanh.
1Боље је име него добро уље, и дан смртни него дан у који се ко роди.
2Đi đến nhà tang chế hơn là đến nhà yến tiệc; vì tại đó thấy sự cuối cùng của mọi người; và người sống để vào lòng.
2Боље је ићи у кућу где је жалост него где је гозба, јер је онде крај сваког човека, и ко је жив, слаже у срце своје.
3Buồn rầu hơn vui vẻ; vì nhờ mặt buồn, lòng được vui.
3Боља је жалост него смех, јер кад је лице невесело, срце постаје боље.
4Lòng người khôn ngoan ở trong nhà tang chế, còn lòng kẻ ngu muội ở tại nhà vui sướng.
4Срце је мудрих људи у кући где је жалост, а срце безумних у кући где је весеље.
5Thà nghe lời quở trách của người khôn ngoan, còn hơn là câu hát của kẻ ngu muội.
5Боље је слушати карање мудрога него да ко слуша песму безумних.
6Vì tiếng cười của kẻ ngu muội giống như tiếng gai nhọn nổ dưới nồi. Điều đó cũng là sự hư không.
6Јер као што прашти трње под лонцем, такав је смех безумников; и то је таштина.
7Phải, sự sách thủ tiền tài làm cho kẻ khôn ra ngu, và của hối lộ khiến cho hư hại lòng.
7Насиље обезумљује мудрога, и поклон изопачује срце.
8Cuối cùng của một việc hơn sự khởi đầu nó; lòng kiên nhẫn hơn lòng kiêu ngạo.
8Бољи је крај ствари него почетак јој; бољи је ко је стрпљивог духа неголи ко је поноситог духа.
9Chớ vội giận; vì sự giận ở trong lòng kẻ ngu muội.
9Не буди нагао у духу свом на гнев, јер гнев почива у недрима безумних.
10Chớ nói rằng: Nhân sao ngày trước tốt hơn ngày bây giờ? Vì hỏi vậy là chẳng khôn.
10Не говори: Шта је то, те су пређашњи дани били бољи од ових? Јер не би било мудро да за то питаш.
11Sự khôn ngoan cũng tốt bằng cơ nghiệp; nó có ích cho những người thấy mặt trời.
11Добра је мудрост с имањем, и корисна је онима који виде сунце.
12Vì sự khôn ngoan che thân cũng như tiền bạc che thân vậy; nhưng sự khôn ngoan thắng hơn, vì nó giữ mạng sống cho người nào đã được nó.
12Јер је мудрост заклон, и новци су заклон; али је претежније знање мудрости тим што даје живот ономе ко је има.
13Hãy xem xét công việc của Đức Chúa Trời; vì vật gì Ngài đã đánh cong, ai có thể làm ngay lại được?
13Погледај дело Божије; јер ко може исправити шта Он искриви?
14Trong ngày thới thạnh hãy vui mừng, trong ngày tai nạn hãy coi chừng; vì Đức Chúa Trời đặt ngày nầy đối với ngày kia, hầu cho người đời chẳng thấy trước đặng điều xảy ra sau mình.
14У добро време уживај добро, а у зло време гледај, јер је Бог створио једно према другом за то да човек не зна шта ће бити.
15Trong những ngày hư không của ta, ta đã thấy cả điều nầy: Người công bình tuy công bình cũng phải hư mất; và kẻ hung ác tuy hung ác lại được trường thọ.
15Свашта видех за времена таштине своје: праведника који пропада у правди својој, и безбожника који дуго живи у својој злоћи.
16Chớ công bình quá, cũng đừng làm ra mình khôn ngoan quá; cớ sao làm thiệt hại cho mình?
16Не буди сувише праведан ни сувише мудар; зашто би себе упропастио?
17Cũng chớ nên hung hăng quá, và đừng ăn ở như kẻ ngu muội; cớ sao ngươi chết trước k” định?
17Не буди сувише безбожан ни луд; зашто би умро пре времена?
18Ngươi giữ được điều nầy, ấy là tốt; mà lại cũng đừng nới tay khỏi điều kia; vì ai kính sợ Đức Chúa Trời ắt tránh khỏi mọi điều đó.
18Добро је да држиш једно, а друго да не пушташ из руке; јер ко се боји Бога избавиће се од свега.
19Sự khôn ngoan khiến cho người khôn có sức mạnh hơn là mười kẻ cai trị ở trong thành.
19Мудрост крепи човека више него десет кнезова који су у граду.
20Thật, chẳng có người công bình ở trên đất làm điều thiện, mà không hề phạm tội.
20Доиста нема човека праведног на земљи који твори добро и не греши.
21Chớ để lòng về mọi lời người ta nói, e ngươi nghe kẻ tôi tớ mình chưởi rủa mình chăng.
21Не узимај на ум свашта што се говори, ако би и слугу свог чуо где те псује;
22Vì thường khi lòng ngươi cũng biết mình đã rủa kẻ khác.
22јер срце твоје зна да си и ти више пута псовао друге.
23Ta đã lấy sự khôn ngoan nghiệm xét mọi sự ấy; ta nói rằng: Ta sẽ ở khôn ngoan; nhưng sự khôn ngoan cách xa ta.
23Све то огледах мудрошћу и рекох: Бићу мудар; али мудрост беше далеко од мене.
24Vả, điều chi xa quá, điều chi sâu thẩm lắm, ai có thế tìm được?
24Шта је тако далеко и врло дубоко, ко ће наћи?
25Ta lại hết lòng chuyên lo cho hiểu biết, xét nét, kiếm tìm sự khôn ngoan và chánh lý muôn vật, lại cho biết rằng gian ác là dại dột và sự dại dột là điên cuồng.
25Окретох се срцем својим да познам и извидим и изнађем мудрост и разум, и да познам безбожност лудости и лудост безумља.
26Ta tìm thấy một điều cay đắng hơn sự chết, ấy là một người đờn bà có lòng giống như lưới bẫy, tay tợ như dây tói: ai ở đẹp lòng Đức Chúa Trời sẽ thoát khỏi nó; còn kẻ có tội sẽ bị nó vấn lấy.
26И нађох да је горча од смрти жена којој је срце мрежа и пругло, којој су руке окови; ко је мио Богу, сачуваће се од ње, а грешника ће ухватити она.
27Kẻ truyền đạo nói: Sau khi xem xét muôn sự từng điều từng vật, đặng tìm chánh lý, thì nầy là điều ta tìm được;
27Гле, то нађох, вели проповедник, једно према другом, тражећи да разумем.
28ấy là lòng ta hãy còn tìm mà chưa tìm ra: trong một ngàn người đờn ông ta đã tìm được một người; còn trong cả thảy người đờn bà ta chẳng tìm được một ai hết.
28Још тражи душа моја, али не нађох. Човека једног у хиљаде нађох, али жене међу свима не нађох.
29Nhưng nầy là điều ta tìm được: Đức Chúa Trời đã dựng nên người ngay thẳng; song loài người có tìm kiếm ra lắm mưu kế.
29Само, гле, ово нађох: да је Бог створио човека доброг; а они траже свакојаке помисли.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.