Giáo 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Ta xây lại, xem xét mọi sự hà hiếp làm ra ở dưới mặt trời; kìa, nước mắt của kẻ bị hà hiếp, song không ai an ủi họ! Kẻ hà hiếp có quyền phép, song không ai an ủi cho kẻ bị hà hiếp!
1Опет видех све неправде које се чине под сунцем, и гле, сузе оних којима се чини неправда, и немају ко би их потешио ни снаге да се избаве из руку оних који им чине неправду; немају никога да их потеши.
2Vậy, ta khen những kẻ chết đã lâu rồi là sướng hơn kẻ còn sống;
2Зато хвалих мртве који већ помреше више него живе који још живе.
3còn kẻ chưa được sanh ra, chưa thấy những gian ác làm ra dưới mặt trời, ta cho là có phước hơn hai đằng kia.
3Али је бољи и од једних и од других онај који још није постао, који није видео зло што бива под сунцем.
4Ta cũng thấy mọi công lao và mọi nghề khéo là điều gây cho người nầy kẻ khác ganh ghét nhau. Điều đó cũng là sự hư không, theo luồng gió thổi.
4Јер видех сваки труд и свако добро дело да од њега бива завист човеку од ближњег његовог. И то је таштина и мука духу.
5Kẻ ngu muội khoanh tay, ăn lấy thịt mình.
5Безумник склапа руке своје, и једе своје тело:
6Thà đầy một lòng bàn tay mà bình an, hơn là đầy cả hai mà bị lao khổ, theo luồng gió thổi.
6Боља је једна грст у миру него обе грсти с трудом и муком у духу.
7Ta bèn xây lại xem thấy sự hư không ở dưới mặt trời:
7Опет видех таштину под сунцем:
8Nầy một người cô độc, chẳng có ai hoặc con trai hay là anh em; dầu vậy, lao khổ nó không thôi, mắt nó không hề chán của cải; nó không hề nghĩ rằng: Vậy ta lao khổ, ta bắt linh hồn nhịn các phước là vì ai? Điều đó cũng là hư không, thật là công việc cực nhọc.
8Има ко је сам, инокосан, нема ни сина ни брата, и опет нема краја труду његовом, и очи његове не могу да се насите богатства; а не мисли: За кога се мучим и одузимам својој души добра? И то је таштина и зао посао.
9Hai người hơn một, vì họ sẽ được công giá tốt về công việc mình.
9Боље је двојици него једном, јер имају добру добит од свог труда.
10Nếu người này sa ngã, thì người kia sẽ đỡ bạn mình lên; nhưng khốn thay cho kẻ ở một mình mà sa ngã, không có ai đỡ mình lên!
10Јер ако један падне, други ће подигнути друга свог; а тешко једном! Ако падне, нема другог да га подигне.
11Cũng vậy, nếu hai người ngủ chung thì ấm; còn một mình thì làm sao ấm được?
11Још ако двојица спавају заједно, греје један другог; а један како ће се згрејати?
12Lại nếu kẻ ở một mình bị người khác thắng, thì hai người có thế chống cự nó; một sợi dây đánh ba tao lấy làm khó đứt.
12И ако би ко надјачао једног, двојица ће му одолети; и трострука врпца не кида се лако.
13Một kẻ trẻ tuổi nghèo mà khôn hơn một ông vua già cả mà dại, chẳng còn biết nghe lời khuyên can.
13Боље је дете убого, а мудро него цар стар, а безуман, који се већ не зна поучити.
14Vì kẻ trẻ ra khỏi ngục khám đặng làm vua, dầu sanh ra nghèo trong nước mình.
14Јер један излази из тамнице да царује, а други који се роди да царује осиромаши.
15Ta thấy mọi người sống đi đi lại lại dưới mặt trời, đều theo kẻ trẻ ấy, là người kế vị cho vua kia.
15Видех све живе који ходе под сунцем где пристају за дететом другим, које ће ступити на његово место.
16Dân phục dưới quyền người thật đông vô số; dầu vậy, những kẻ đến sau sẽ chẳng vui thích về người. Điều đó cũng là sự hư không, theo luồng gió thổi.
16Нема краја народу који беше пред њим, а који после настану неће се радовати њему. И то је таштина и мука духу.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.