Суддїв
Chapter 8
Kulish and Puluj Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Суддїв 8

Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ефраїмії ж мовляли до його: Що се ти вдїяв нам, що не покликав нас? Нї, ти сам виступив у поле проти Мадиянїїв! І сварились тяжко з ним.
1Người Eùp-ra-im bèn nói cùng Ghê-đê-ôn rằng: Vì sao ông đã đãi chúng tôi như vậy? Khi ông đi giao chiến cùng dân Ma-đi-an, sao không gọi chúng tôi đi với? Chúng cãi cùng người cách dữ dội.
2Відказав їм: Що я вчинив більш як ви? Хиба виноградуваннє Ефраїмове не переважує Абієзерового збирання винограду?
2Nhưng người đáp cùng chúng rằng: Sánh với anh em, tôi há có làm được điều chi? Sự mót nho của Eùp-ra-im há chẳng hơn mùa gặt nho của A-bi-ê-xe sao?
3Бог оддав вам у руки Мадиянїйських князїв Орива й Зива. Що ж би я зміг зробити рівноважнього з вами? Як се промовив, угамувався гнїв їх і пійшли собі від його.
3Đức Chúa Trời đã phó Ô-rép và Xê-ép là hai quan trưởng dân Ma-đi-an, vào tay anh em. Đem sánh với anh em, tôi nào có làm được điều gì? Khi người nói lời ấy rồi, cơn giận của chúng bèn nguôi.
4Як же прибув Гедеон до Йорданї й перейшов на той бік сам і триста, що йшли з ним, потомлені погонею,
4Ghê-đê-ôn đi tới sông Giô-đanh, sang qua cùng ba trăm người đồng theo mình; dẫu mệt nhọc, họ cũng cứ rượt theo quân nghịch.
5Прохав він міських осадників у Соккотї: Дайте хлїба людям, що я веду, бо потомились, уганяючи зо мною за Мадиянїйським царем Зевейом і Салманом.
5Người bèn nói cùng dân Su-cốt rằng: Ta xin các ngươi hãy cấp một vài ổ bánh cho dân theo ta, vì chúng mệt nhọc; ta đang đuổi theo Xê-bách và Xanh-mu-na, hai vua Ma-đi-an.
6Городські ж голови питали: Хиба в тебе в руках уже Зевей та Салман, щоб нам твоє військо харчити?
6Nhưng các quan trưởng Su-cốt đáp rằng: Chớ thì ông đã cầm nơi tay mình cườm tay của Xê-bách và Xanh-mu-na chưa, nên chúng tôi phải cấp bánh cho đạo binh ông?
7Відказав Гедеон: Добре! Як подасть менї Господь на поталу Зевея та Салмана, тодї я пороздираю ваше тїло дикою терниною та бороною.
7Ghê-đê-ôn la lên rằng: Thế thì, khi Đức Giê-hô-va đã phó Xê-bách và Xanh-mu-na vào tay ta, ta sẽ lấy chông đồng vắng và nhánh gai mà đánh thịt các ngươi!
8Звідти двинув на Пенуел і сказав осадникам так само, бо Пенуеляне відказали йому те ж саме, що й Суккотяне.
8Từ đó, người đi lên đến Phê-nu-ên và cũng nói một cách ấy với dân Phê-nu-ên. Dân Phê-nu-ên đáp cùng người y như dân Su-cốt đã đáp.
9Відказав і Пенуелянам: Як вертати мусь у доброму здоровї, зруйную сей город.
9Vậy, người cũng nói với dân Phê-nu-ên rằng: Khi ta trở về bình an, ắt sẽ phá hủy cái tháp nầy.
10Зевей же та Салман були з їх військом в Каркорі до пятнайцяти тисячей чоловіка, все що зосталось із усього війська восточників, бо полягло їх сто й двайцять тисячей чоловіка, всї взброєні мечами.
10Xê-bách và Xanh-mu-na ở tại Cạt-cô với quân binh mình, số chừng mười lăm ngàn người, là kẻ còn sót lại trong đạo binh của các người phương Đông; vì một trăm hai mươi ngàn người có tài cầm gươm đã bị giết.
11І пійшов Гедеон караванним шляхом на схід сонця від Ноби й Йокбеги, та й ударив на табір, як військо спочивало собі безпечно.
11Ghê-đê-ôn đi lên theo đường của những dân ở dưới trại, tại hướng đông Nô-bách và Giô-bê-ha, đánh bại đạo binh vẫn tưởng rằng mình bình an vô-sự.
12Зевей і Салман втекли; він же вганяв за ними та й позаймав обох Мадиянїйських царів у полонь, а все військо пороспуджував.
12Khi Xê-bách và Xanh-mu-na chạy trốn, người đuổi theo bắt được hai vua Ma-đi-an, là Xê-bách và Xanh-mu-na, và đánh cả đạo binh vỡ chạy.
13Тодї вернувся Гедеон Йоасенко на Хересів прохід із походу свого.
13Đoạn, Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, ở trận trở về qua dốc Hê-re,
14І піймав одного молодика з Соккотян, випитував його, й той мусїв йому поважнїйших городян Соккотських сїмдесять і сїм чоловік списати.
14bắt một đứa con trai trẻ ở Su-cốt, tra hỏi nó, rồi nó viết khai tên những quan trưởng và trưởng lão của Su-cốt, số được bảy mươi bảy người.
15Прийшовши тодї він до Соккотян, промовив: Оце вам Зевей і Салман, що за них ви мене соромили питаючи: Хиба рука Зевея та Салмана уже в тебе в руцї, щоб нам харчувати твоїх томлених людей?
15Kế đó, người đến cùng dân Su-cốt, mà nói rằng: Nầy Xê-bách và Xanh-mu-na mà các ngươi đã mắng ta rằng: Chớ thì ông đã cầm cườm tay Xê-bách và Xanh-mu-na nơi tay mình chưa, nên chúng tôi phải cấp bánh cho dân mệt nhọc của ông?
16Ухопив тодї він поважнїйших горожан, і взяв дикої тернини та борону та й пороздирав тих Суккотян.
16Vậy, người bắt các trưởng lão của thành, lấy chông gai nơi đồng vắng mà đánh phạt những người Su-cốt;
17В Пенуелї ж зруйнував башту та й повбивав городян.
17cũng phá hủy tháp Phê-nu-ên và giết những người của thành ấy.
18Тодї питає в Зевея та в Салмана: Які були на виду ті мужі, що ви побили їх на Таворі? Вони кажуть: Зовсїм як ти були вони на виду, кожен на виду мов царевич.
18Đoạn, người nói cùng Xê-bách và Xanh-mu-na rằng: Các người kia mà hai ngươi đã giết tại Tha-bô là làm sao? Hai vua đáp: Chúng nó cũng như ngươi; mỗi người đều có hình vóc như một hoàng tử.
19Він же каже: Се були брати мої, сини матері моєї. Так вірно, як Бог живе: коли б ви зоставили були їх живими, я не вбивав би вас.
19Người tiếp: Aáy là anh em ta, con của mẹ ta. Quả thật, ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, nếu hai ngươi đã để anh em ta sống, thì nay ta không giết hai ngươi!
20Рече тодї свойму перворідневі Етерові: Встань! постинай обох! Хлопець же не виймав з піхви меча свого: боявся, був ще недорослий.
20Đoạn, Ghê-đê-ôn nói cùng Giê-the, con đầu lòng mình, mà rằng: Hãy chổi dậy, giết họ đi. Nhưng người trẻ chẳng rút gươm ra vì sợ: người vẫn còn thiếu niên.
21Озвуться тодї Зевей та Салман: Встань сам і постинай нас, по чоловікові бо й сила його. І встав Гедеон та й постинав Зевея й Салмана, й побрав собі пряжки, що їх верблюди мали на шиї,
21Xê-bách và Xanh-mu-na nói: Chính ngươi hãy chổi dậy và đánh chúng ta đi; vì hễ người thể nào thì sức thể ấy. Ghê-đê-ôn bèn chổi dậy, giết Xê-bách và Xanh-mu-na; đoạn lấy đồ trang sức hình như trăng lưỡi liềm ở nơi cổ lạc đà của hai vua.
22Тодї мужі Ізраїлські прохали Гедеона: Пануй над нами, і ти сам, і син твій й твого сина син: бо ти нас визволив із потали в Мадиянїїв.
22Bấy giờ, những người Y-sơ-ra-ên nói cùng Ghê-đê-ôn rằng: Xin ông, con trai, và cháu ông hãy quản trị chúng tôi, vì ông đã giải cứu chúng tôi khỏi tay dân Ma-đi-an.
23Гедеон же відказав їм: Нї, я над вами не буду панувати, нї син мій над вами не панувати ме, Господь нехай над вами панує.
23Nhưng Ghê-đê-ôn đáp cùng chúng rằng: Ta chẳng quản trị các ngươi, con trai ta cũng không quản trị các ngươi đâu; Đức Giê-hô-va sẽ quản trị các ngươi.
24І рече їм Гедеон: Хочу в вас чогось попросити: дайте менї по каблучцї з вашого лупу. Вороги бо носили золоті ковтки, бо були Ізмаїлїї.
24Đoạn, Ghê-đê-ôn nói cùng chúng rằng: Ta chỉ xin các ngươi một điều nầy, là mỗi người trong các ngươi phải giao cho ta những vòng mình đã đoạt lấy. (Vả, quân nghịch có những vòng vàng, vì chúng nó vốn là dân ỗch-ma-ên).
25Они відказали: Дамо тобі їх охотою. І прослали опончу, і кожен кидав добичню наушницю на неї.
25Chúng đáp: Chúng tôi sẵn lòng giao cho ông. Họ trải một áo tơi ra, rồi hết thảy đều ném vào đó những vòng của mình đã đoạt lấy.
26Та назбіралось ваги в золотих каблучках, що випрохав, тисяча й сїмсот золотих секлів, опріч пряжок, сережок та пурпурових шат, що носили мадиянїйські царі, й окрім нашийних почіпок у їх верблюдів.
26Những vòng vàng mà Ghê-đê-ôn đã xin, cân được một ngàn bảy trăm siếc-lơ vàng, không kể những đồ trang sức hình như trăng lưỡi liềm, hoa tai, và áo sắc điều của vua Ma-đi-an thường mặc, cùng những kiềng nơi cổ lạc đà.
27Гедеон же звелїв із того виготовити ефода, й поставив його в отецькому городї свойму Офрі, й ввесь Ізраїль ідольствував там із ним, і був він сїтею йому й його родинї.
27Ghê-đê-ôn lấy vật đó làm một cái ê-phót, để trong thành mình tại Oùp-ra. Cả Y-sơ-ra-ên đều cúng thờ cái ê-phót đó; nó trở thành một cái bẫy cho Ghê-đê-ôn và cả nhà người.
28Так упокорились Мадиянїї перед синами Ізраїля, так що вже не задирали голови своєї в гору. І тїшилась супокоєм земля сорок год, покіль Гедеон жив на сьвітї.
28Dân Ma-đi-an bị phục trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, chẳng cất đầu lên được nữa; nên trong đời Ghê-đê-ôn, xứ được hòa bình trọn bốn mươi năm.
29І вернувсь додому Еробаал Йоасенко і жив далій у своїй господї.
29Giê-ru-ba-anh, con trai Giô-ách, trở về và ở trong nhà mình.
30Було в Гедеона сїмдесять рідних по тїлу синів, мав бо жінок багацько.
30Vả, Ghê-đê-ôn sanh được bảy mươi con trai, vì người có nhiều vợ.
31А наліжниця його, що держав у Сихемі, вродила йому також сина, і дав він йому імя Абимелех.
31Vợ lẽ người ở tại Si-chem, cũng sanh cho người một con trai đặt tên là A-bi-mê-léc.
32І вмер Гедеон Йоасенко в високих старощах, і поховано його в гробовищі батьківському Йоасовому в Офрі Авіезеровій.
32Đoạn, Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, qua đời, tuổi tác đã cao, được chôn trong mả của Giô-ách, cha người, tại Oùp-ra, là thành dân A-bi-ê-xê-rít.
33Як умер же Гедеон, блудували знов сини Ізрайлеві за Баалом і прийняли собі Баалверита за бога.
33Sau khi Ghê-đê-ôn qua đời, dân Y-sơ-ra-ên trở lại hành dâm cùng các Ba-anh, và chọn Ba-anh-Bê-rít làm thần.
34І не памятали Ізрайлитяне про Господа, Бога свого, що визволяв їх із потали всїх ворогів їх навкруги.
34Như vậy, dân Y-sơ-ra-ên không nhớ đến Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, là Đấng đã giải cứu họ khỏi tay các kẻ thù nghịch ở chung quanh;
35Та й не показували нїякої прихилности до родини Еробаалової, Гедеонової, такої щоб рівноважили з добродїйствами, які він чинив Ізраїлеві.
35và cũng không có lòng thảo chút nào với nhà Giê-ru-ba-anh, là Ghê-đê-ôn, về các ơn mà người đã làm cho Y-sơ-ra-ên.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.