Судије
Chapter 8
Daničić–Karadžić Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
Vietnamese Bible (1923 translation)
1А људи од племена Јефремовог рекоше му: Шта нам то учини те нас не позва кад пође у бој на Мадијане? И викаху на њ жестоко.
1Người Eùp-ra-im bèn nói cùng Ghê-đê-ôn rằng: Vì sao ông đã đãi chúng tôi như vậy? Khi ông đi giao chiến cùng dân Ma-đi-an, sao không gọi chúng tôi đi với? Chúng cãi cùng người cách dữ dội.
2А он им рече: Па шта сам учинио тако као ви? Није ли пабирчење Јефремово боље него берба Авијезерова?
2Nhưng người đáp cùng chúng rằng: Sánh với anh em, tôi há có làm được điều chi? Sự mót nho của Eùp-ra-im há chẳng hơn mùa gặt nho của A-bi-ê-xe sao?
3Вама је у руке дао Господ кнезове мадијанске, Орива и Зива; па шта ја могох учинити тако као ви? Тада се утиша дух њихов према њему кад тако говори.
3Đức Chúa Trời đã phó Ô-rép và Xê-ép là hai quan trưởng dân Ma-đi-an, vào tay anh em. Đem sánh với anh em, tôi nào có làm được điều gì? Khi người nói lời ấy rồi, cơn giận của chúng bèn nguôi.
4А кад Гедеон дође на Јордан, пређе преко њега с триста људи који беху с њим, а беху уморни гонећи.
4Ghê-đê-ôn đi tới sông Giô-đanh, sang qua cùng ba trăm người đồng theo mình; dẫu mệt nhọc, họ cũng cứ rượt theo quân nghịch.
5Па рече људима Сокоћанима: Дајте неколико хлебова народу који иде за мном, јер су уморни, а ја гоним Зевеја и Салмана цареве мадијанске.
5Người bèn nói cùng dân Su-cốt rằng: Ta xin các ngươi hãy cấp một vài ổ bánh cho dân theo ta, vì chúng mệt nhọc; ta đang đuổi theo Xê-bách và Xanh-mu-na, hai vua Ma-đi-an.
6А главари сокотски рекоше му: Је ли песница Зевејева и Салманова већ у твојој руци да дамо хлеба твојој војсци?
6Nhưng các quan trưởng Su-cốt đáp rằng: Chớ thì ông đã cầm nơi tay mình cườm tay của Xê-bách và Xanh-mu-na chưa, nên chúng tôi phải cấp bánh cho đạo binh ông?
7А Гедеон им рече: Кад ми Бог преда Зевеја и Салмана у руке, тада ћу помлатити телеса ваша трњем из ове пустиње и драчом.
7Ghê-đê-ôn la lên rằng: Thế thì, khi Đức Giê-hô-va đã phó Xê-bách và Xanh-mu-na vào tay ta, ta sẽ lấy chông đồng vắng và nhánh gai mà đánh thịt các ngươi!
8И отиде оданде у Фануил, и рече Фануиљанима исто онако, а они му одговорише као што одговорише људи у Сокоту.
8Từ đó, người đi lên đến Phê-nu-ên và cũng nói một cách ấy với dân Phê-nu-ên. Dân Phê-nu-ên đáp cùng người y như dân Su-cốt đã đáp.
9Зато и људима Фануиљанима рече: Кад се вратим здраво, развалићу ту кулу.
9Vậy, người cũng nói với dân Phê-nu-ên rằng: Khi ta trở về bình an, ắt sẽ phá hủy cái tháp nầy.
10А Зевеј и Салман беху у Каркору, и војска њихова с њима, око петнаест хиљада, што их год оста од све војске источне; а побијених беше сто и двадесет хиљада људи који махаху мачем.
10Xê-bách và Xanh-mu-na ở tại Cạt-cô với quân binh mình, số chừng mười lăm ngàn người, là kẻ còn sót lại trong đạo binh của các người phương Đông; vì một trăm hai mươi ngàn người có tài cầm gươm đã bị giết.
11И отиде Гедеон преко оних што живе под шаторима, с истока Нови и Јогвеји, и удари на војску кад војска стајаше безбрижна.
11Ghê-đê-ôn đi lên theo đường của những dân ở dưới trại, tại hướng đông Nô-bách và Giô-bê-ha, đánh bại đạo binh vẫn tưởng rằng mình bình an vô-sự.
12А Зевеј и Салман побегоше, а он их потера, и ухвати два цара мадијанска, Зевеја и Салмана, и распуди сву војску.
12Khi Xê-bách và Xanh-mu-na chạy trốn, người đuổi theo bắt được hai vua Ma-đi-an, là Xê-bách và Xanh-mu-na, và đánh cả đạo binh vỡ chạy.
13И врати се Гедеон син Јоасов из боја пре сунчаног рођаја.
13Đoạn, Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, ở trận trở về qua dốc Hê-re,
14И ухвати момка из Сокота, и испитива га; а он му пописа кнезове сокотске и старешине, седамдесет и седам људи.
14bắt một đứa con trai trẻ ở Su-cốt, tra hỏi nó, rồi nó viết khai tên những quan trưởng và trưởng lão của Su-cốt, số được bảy mươi bảy người.
15Па кад дође к Сокоћанима, рече: Ево Зевеја и Салмана, за које ми се ругасте говорећи: Је ли песница Зевејева и Салманова већ у твојој руци, да дамо хлеба уморним људима твојим?
15Kế đó, người đến cùng dân Su-cốt, mà nói rằng: Nầy Xê-bách và Xanh-mu-na mà các ngươi đã mắng ta rằng: Chớ thì ông đã cầm cườm tay Xê-bách và Xanh-mu-na nơi tay mình chưa, nên chúng tôi phải cấp bánh cho dân mệt nhọc của ông?
16И узевши старешине оног места и трња из пустиње и драче даде на њима углед Сокоћанима.
16Vậy, người bắt các trưởng lão của thành, lấy chông gai nơi đồng vắng mà đánh phạt những người Su-cốt;
17И кулу фануилску развали и поби људе тамошње.
17cũng phá hủy tháp Phê-nu-ên và giết những người của thành ấy.
18Потом рече Зевеју и Салману: Какви беху људи које побисте на Тавору? А они рекоше: Такви као ти; сваки беше на очима као царски син.
18Đoạn, người nói cùng Xê-bách và Xanh-mu-na rằng: Các người kia mà hai ngươi đã giết tại Tha-bô là làm sao? Hai vua đáp: Chúng nó cũng như ngươi; mỗi người đều có hình vóc như một hoàng tử.
19А он рече: То беху моја браћа, синови моје матере. Тако Господ био жив! Да сте их оставили у животу, не бих вас погубио.
19Người tiếp: Aáy là anh em ta, con của mẹ ta. Quả thật, ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, nếu hai ngươi đã để anh em ta sống, thì nay ta không giết hai ngươi!
20Тада рече Јетеру првенцу свом: Устани, погуби их. Али дете не извуче мач свој, јер се бојаше, јер беше још дете.
20Đoạn, Ghê-đê-ôn nói cùng Giê-the, con đầu lòng mình, mà rằng: Hãy chổi dậy, giết họ đi. Nhưng người trẻ chẳng rút gươm ra vì sợ: người vẫn còn thiếu niên.
21Тада рече Зевеј и Салман: Устани ти, уложи на нас; јер какав је човек онаква му је и снага. И уставши Гедеон погуби Завеја и Салмана, и узе месечиће који беху о вратовима камила њихових.
21Xê-bách và Xanh-mu-na nói: Chính ngươi hãy chổi dậy và đánh chúng ta đi; vì hễ người thể nào thì sức thể ấy. Ghê-đê-ôn bèn chổi dậy, giết Xê-bách và Xanh-mu-na; đoạn lấy đồ trang sức hình như trăng lưỡi liềm ở nơi cổ lạc đà của hai vua.
22Потом рекоше Израиљци Гедеону: Буди нам господар ти и син твој и син сина твог, јер си нас избавио из руке мадијанске.
22Bấy giờ, những người Y-sơ-ra-ên nói cùng Ghê-đê-ôn rằng: Xin ông, con trai, và cháu ông hãy quản trị chúng tôi, vì ông đã giải cứu chúng tôi khỏi tay dân Ma-đi-an.
23А Гедеон им рече: Нећу вам ја бити господар, нити ће вам син мој бити господар; Господ ће вам бити Господар.
23Nhưng Ghê-đê-ôn đáp cùng chúng rằng: Ta chẳng quản trị các ngươi, con trai ta cũng không quản trị các ngươi đâu; Đức Giê-hô-va sẽ quản trị các ngươi.
24Још им рече Гедеон: Једно ћу искати од вас: да ми дате сваки гривну од плена свог. А гривне имаху златне, јер беху Исмаиљци.
24Đoạn, Ghê-đê-ôn nói cùng chúng rằng: Ta chỉ xin các ngươi một điều nầy, là mỗi người trong các ngươi phải giao cho ta những vòng mình đã đoạt lấy. (Vả, quân nghịch có những vòng vàng, vì chúng nó vốn là dân ỗch-ma-ên).
25И одговорише: Даћемо драге воље. И разастрвши хаљину бацише на њу гривне, сваки од плена свог.
25Chúng đáp: Chúng tôi sẵn lòng giao cho ông. Họ trải một áo tơi ra, rồi hết thảy đều ném vào đó những vòng của mình đã đoạt lấy.
26И беше на меру златних гривана што изиска хиљаду и седам стотина сикала злата, осим месечића и ланчића и хаљина скерлетних, што ношаху цареви мадијански, и осим литарова, што беху око врата камила њихових.
26Những vòng vàng mà Ghê-đê-ôn đã xin, cân được một ngàn bảy trăm siếc-lơ vàng, không kể những đồ trang sức hình như trăng lưỡi liềm, hoa tai, và áo sắc điều của vua Ma-đi-an thường mặc, cùng những kiềng nơi cổ lạc đà.
27И Гедеон начини од тога оплећак, и остави га у свом граду Офри; и онде сав Израиљ стаде чинити прељубу за њим, и би Гедеону и дому његовом замка.
27Ghê-đê-ôn lấy vật đó làm một cái ê-phót, để trong thành mình tại Oùp-ra. Cả Y-sơ-ra-ên đều cúng thờ cái ê-phót đó; nó trở thành một cái bẫy cho Ghê-đê-ôn và cả nhà người.
28Тако бише покорени Мадијани пред синовима Израиљевим, и више не дигоше главе. И земља би мирна четрдесет година за века Гедеоновог.
28Dân Ma-đi-an bị phục trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, chẳng cất đầu lên được nữa; nên trong đời Ghê-đê-ôn, xứ được hòa bình trọn bốn mươi năm.
29И отишавши Јеровал син Јоасов оста у својој кући.
29Giê-ru-ba-anh, con trai Giô-ách, trở về và ở trong nhà mình.
30И имаше Гедеон седамдесет синова, који изиђоше од бедара његових, јер имаше много жена.
30Vả, Ghê-đê-ôn sanh được bảy mươi con trai, vì người có nhiều vợ.
31И иноча његова, која беше у Сихему, и она му роди сина, и наде му име Авимелех.
31Vợ lẽ người ở tại Si-chem, cũng sanh cho người một con trai đặt tên là A-bi-mê-léc.
32Потом умре Гедеон син Јоасов у доброј старости, и би погребен у гробу Јоаса оца свог Авијезерита у Офри.
32Đoạn, Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, qua đời, tuổi tác đã cao, được chôn trong mả của Giô-ách, cha người, tại Oùp-ra, là thành dân A-bi-ê-xê-rít.
33И кад умре Гедеон, опет синови Израиљеви чинише прељубу за Валима, и поставише себи Вал-Верита за бога.
33Sau khi Ghê-đê-ôn qua đời, dân Y-sơ-ra-ên trở lại hành dâm cùng các Ba-anh, và chọn Ba-anh-Bê-rít làm thần.
34И не сећаше се синови Израиљеви Господа Бога свог, који их је избавио из руку свих непријатеља њихових унаоколо.
34Như vậy, dân Y-sơ-ra-ên không nhớ đến Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, là Đấng đã giải cứu họ khỏi tay các kẻ thù nghịch ở chung quanh;
35И не учинише милости дому Јеровала Гедеона према свему добру што је он учинио Израиљу.
35và cũng không có lòng thảo chút nào với nhà Giê-ru-ba-anh, là Ghê-đê-ôn, về các ơn mà người đã làm cho Y-sơ-ra-ên.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.