1 Самуїлова
Chapter 14
Kulish and Puluj Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

1 Самуїлова 14

Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Сталося ж одного дня, Йонатан, син Саулів, не переказавши свойму батькові, звелїв хлопцеві, що носив йому зброю: Ходїмо, перейдемо до Филистійської чати, що стоїть по тім боцї.
1Một ngày kia, Giô-na-than, con trai của Sau-lơ, nói cùng gã trai trẻ vác binh khí mình, mà rằng: Hè, chúng ta hãy đi qua đồn quân Phi-li-tin, đóng ở phía bên kia. Nhưng người chẳng nói cho cha mình hay.
2Саул же седїв саме на Гивійській гряницї під гранатовим деревом, що під Мигроном; людей при йому було до шістьох сотень чоловіка,
2Bấy giờ, Sau-lơ ở tại đầu ranh Ghi-bê-a, dưới cây lựu của Mi-gơ-rôn, còn đạo quân theo người ước chừng sáu trăm người.
3І Ахія, син Ахитува, брата Йохаведового Пинеесенкового, сина Ілїйного, сьвященник Господнїй в Силомі, що носив тодї ефод. Люде ж не знали нїчого, куди Йонатан пійшов.
3A-hi-gia, con trai A-hi-túp, anh của Y-ca-bốt, con trai Phi-nê-a, cháu Hê-li, mặc áo ê-phót, làm thầy tế lễ tại Si-lô. Dân sự không biết Giô-na-than đi.
4А були між горами, куди Йонатан пробирався, щоб напасти на Филистійську чату, і по сїм і по тім боцї гострі скелї: Одну звали Бозез, другу Сене;
4ỳ giữa đèo mà Giô-na-than gắng sức đi đặng đến đồn Phi-li-tin, có một răng đá ở bên nầy, và một răng ở bên kia; cái nầy gọi là Bốt-sết, còn cái kia gọi là Sê-nê.
5Одна скеля стриміла на північньому боцї, навпроти Михмаса, друга на полуденньому боцї, навпроти Гиви.
5Một cái răng đá mọc lên về phía bắc, đối ngang Mích-ma, còn cái kia ở tại phía nam, đối ngang Ghê-ba.
6От і каже Йонатан хлопцеві, що носив йому зброю: Перейдїмо лишень до чати сих необрізаних; може Господь за нас воювати ме, бо Господеві нема перепину, щоб допомогти чи через многих людей, чи через немногих.
6Giô-na-than nói cùng kẻ vác binh khí mình rằng: Hè, chúng ta hãy hãm đồn của những kẻ chẳng chịu cắt bì kia. Hoặc giả Đức Giê-hô-va sẽ hành sự vì chúng ta chăng; vì Đức Giê-hô-va khiến cho số ít người được thắng cũng như số đông người vậy.
7І відказав йому зброєноша: Чини, що тобі по серцї; я з тобою, і чого ти хочеш, те й я хочу!
7Kẻ vác binh khí của người thưa rằng: Hãy làm điều ông ước, và đi nơi nào ông muốn; lòng ông dẫn ông đi đâu, tôi sẽ theo đó.
8І сказав Йонатан: Ну, так перейдїмо до тих людей, нехай нас побачять.
8Giô-na-than tiếp: Nầy, chúng ta hãy đi đến những người ấy, tỏ mình ra cho chúng nó.
9Як вони скажуть нам: Стійте, покіль ми не наближились, то ми зʼупинїмось на свойму місцї, і не наближуймось до них,
9Nếu chúng nó nói: Hãy đợi chúng ta đến cùng các ngươi, thì chúng ta sẽ đứng lại chỗ mình và không lên đến cùng chúng nó.
10Коли ж скажуть: Ійдїть сюди до нас, тодї ми пійдемо, бо Господь подав їх нам у руки: се нехай буде нам ознакою.
10Còn nếu chúng nó nói rằng: Hãy lên đến chúng ta; thì chúng ta sẽ lên; vì Đức Giê-hô-va đã phó chúng nó vào tay chúng ta: điều đó sẽ dùng làm dấu hiệu cho chúng ta.
11Як же стали обидва на виду в Филистійської чати, то Филистії подумали: Се Евреї вилазять із нор, куди позалазили були.
11Vậy hai người đều đi lên đồn Phi-li-tin. Dân Phi-li-tin nói: Kìa, những người Hê-bơ-rơ ra từ hang đá là nơi chúng nó ẩn trốn kia.
12От і кликнули чатівники Йонатанові та його зброєноші: Ходїть сюди до нас; ми щось вам скажемо. І каже Йонатан свойму зброєноші: Іди слїдом за мною, бо Господь подав їх нам на поталу.
12Lính của đồn nói cùng Giô-na-than và kẻ vác binh khí mà rằng: Hãy đi đến chúng ta, chúng ta có chuyện tỏ cùng hai ngươi. Giô-na-than nói với kẻ vác binh khí mình rằng: Hãy theo ta, vì Đức Giê-hô-va đã phó chúng nó vào tay Y-sơ-ra-ên.
13От і лїзе рачки Йонатан на руках і на ногах, а зброєноша його слїдом за ним. І падали вони перед Йонатаном, а зброєноша його добивав їх позад його.
13Giô-na-than dùng tay và chân leo lên, và kẻ cầm binh khí leo theo. Người Phi-li-tin ngã trước mặt Giô-na-than, và kẻ vác binh khí giết chúng nó chết ở đằng sau người.
14І впало в тім первім побою, що завдав Йонатан та зброєноша його, до двайцятьох чоловіка на просторі половини дня ораня одною парою волів.
14Trong trận thứ nhất nầy, Giô-na-than và kẻ vác binh khí người giết chừng hai mươi người, trong một khoảng nửa công đất.
15І обняв тодї страх табір і ввесь військовий люд; так само полякались чати і хижацькі купи. До сього ж іще затрусилась земля, і настав великий страх від Господа.
15Sự hãi hùng tràn ra trong trại quân, trong đồng, và trong cả dân Phi-li-tin. Quân đồn và đảng cướp giựt đều bị kinh khủng; đất bị rúng động; ấy như một sự kinh khiếp của Đức Chúa Trời vậy.
16І дивиться Саулова сторожа в Гиві Беняминовій, аж се товпа розбігається сюди й туди.
16Lính canh của Sau-lơ ở tại Ghi-bê-a trong xứ Bên-gia-min, đều thấy quân chúng Phi-li-tin tản lạc và chạy trốn lộn xộn.
17І повелїв Саул людям, що круг його були: зробіте перегляд і подивітесь, хто з нас відлучивсь. Як же зробили перегляд, аж нема Йонатана й його зброєноші.
17Bấy giờ, Sau-lơ nói với quân lính ở cùng mình rằng: Hãy kiểm điểm xem ai là những người đã bỏ hàng ngũ chúng ta. Chúng kiểm điểm, thấy thiếu Giô-na-than và kẻ vác binh khí người.
18І сказав тодї Саул Ахії: Пристав сюди скриню Господню, бо скриня Божа була тодї з синами Ізрайлевими.
18Sau-lơ nói cùng A-hi-gia rằng: Hãy đem hòm của Đức Chúa Trời đến gần (vì trong ngày đó hòm của Đức Chúa Trời ở cùng dân Y-sơ-ra-ên).
19Тим часом же, як Саул розмовляв із сьвященником, трівога та крик, робились все більші та більші в таборі Филистійському, і Саул сказав сьвященникові: Зложи руки твої.
19Nhưng trong khi Sau-lơ nói với thầy tế lễ, thì tiếng ồn ào lại càng thêm lên trong trại quân Phi-li-tin. Sau-lơ nói cùng thầy tế lễ rằng: Hãy rút tay ngươi lại.
20І зібравсь тодї Саул з усїм військом, що було при йому, і як прийшли на боєвище, аж кожен підіймає меча проти товариша свого; замішанє було дуже велике.
20Đoạn, Sau-lơ và hết thảy quân lính ở cùng người hiệp lại, đi tới chốn chiến trường, kìa thấy người Phi-li-tin rút gươm giết lẫn nhau, hỗn loạn cực điểm.
21Та ще й Евреї, що давно вже пристали були до Филистіїв і ходили з ними всюди в таборі, пристали тепер до Ізрайлитян, що держались Саула та Йонатана.
21Những người Hê-bơ-rơ đã từ lâu phục dân Phi-li-tin và theo họ trong trại quân, nay trở lòng hiệp với Y-sơ-ra-ên vẫn theo cùng Sau-lơ và Giô-na-than.
22І всї Ізрайлитяне, що поховались були в Ефраїм-горах, почувши, що Филистії повтекали, сполучились із своїми до бою.
22Lại khi hết thảy người Y-sơ-ra-ên đang ẩn trong núi Eùp-ra-im, nghe dân Phi-li-tin chạy trốn, cũng rượt đuổi theo chúng nó mà đánh giặc.
23Так дарував Господь Ізраїлеві того дня побіду, а побоїще простягалось аж за Бет-Авену. (Всїх людей було з Саулом до десяти тисяч і битва розтягалась по цїлому містї на горі Ефраїмовій.)
23Đức Giê-hô-va giải cứu Y-sơ-ra-ên trong ngày đó; cơn giặc tràn đến Bết-A-ven.
24Ізрайлитяне були того дня вельми втомлені, та Саул учинив учинок необачний бо закляв люд таким закляттєм: Проклят, хто їсти ме що до вечора, аж покіль помщусь над моїми ворогами! Тим і не їв харчі нїхто з народу.
24Cũng trong ngày đó, dân Y-sơ-ra-ên bị mệt đuối. Vả lại, Sau-lơ có thề cùng dân sự rằng: Đáng rủa sả người nào sẽ ăn vật thực gì trước khi chiều tối, tức trước khi ta báo thù những kẻ cừu địch ta! Vì vậy, cả dân sự đều cử không ăn vật thực gì hết.
25І пійшов весь люд у лїс, і був там на полянї мед.
25Song chúng dân đã đến trong một cái rừng có mật ong trên mặt đất.
26Як наближився люд, каже: ось тече мед; та нїхто не простяг руки до рота, бо люде страхались проклону.
26Bấy giờ, dân sự đi vào trong rừng, thấy mật nầy chảy; chẳng ai dám chấm tay vào miệng, vì sợ lời thề.
27Йонатана ж не було при тому, як батько його заклинав людей. От він достав меду кінцем палицї, що держав у руцї, та й скоштував меду. Тодї знов заяснїли очі в його.
27Nhưng Giô-na-than không biết lời thề mà cha mình đã lập cùng dân sự, nên giơ đầu gậy mình cầm nơi tay chấm vào tàng mật ong, rồi lấy tay đem mật vào miệng, thì mắt người sáng ra.
28Один же військовий озвавсь до його та й каже: Твій панотець закляв люд такою клятьбою: Проклят, хто що їсти ме сьогоднї; люд же був утомлений.
28Có người trong dân chúng cất tiếng nói rằng: Cha ông có thề cùng dân chúng rằng: Đáng rủa sả người nào ăn vật thực gì trong ngày nay. Vả, dân sự đều bị mệt đuối.
29І відказав Йонатан: Панотець мій стрівожив землю; от дивітесь, як мої очі засьвітились, коли скоштував я трошки сього меду;
29Giô-na-than đáp rằng: Cha ta làm rối cho xứ, hãy xem mắt ta đã sáng dường nào, vì cớ nếm chút mật nầy!
30А й надто коли б люде попоїли добре сьогоднї ворожого лупу, що здобули, то чи ж не більший ще був би побій між Филистіями?
30è! chớ chi ngày nay dân sự đã ăn vật chiếm được của thù nghịch, thì sự thua bại dân Phi-li-tin đã lớn hơn biết bao!
31Тож побивали вони Филистіїв того дня від Михмасу до Аялону, і військовий люд потомивсь вельми.
31Vậy ngày đó, dân Y-sơ-ra-ên đánh bại dân Phi-li-tin từ Mích-ma cho đến A-gia-lôn.
32І кинулись люде на луп, брали вівцї, корови, телята, і заколювали на землї, та й їли люде з кровю.
32Dân sự bị mệt đuối lắm, bèn xông vào của cướp, bắt chiên, bò, bò con, giết đi trên đất, rồi ăn thịt lộn với huyết.
33Як же сповіщено Саулові: Провинили люде Господеві, що їли з кровю, промовив він: Се ледарство; прикотїть менї великого каменя.
33Có người đến nói cùng Sau-lơ rằng: Kìa, dân sự phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, mà ăn thịt lộn với huyết. Người đáp: Aáy là một sự lỗi đạo! Hãy lập tức lăn một hòn đá lớn đến gần ta.
34І повелїв Саул: Розійдїтесь проміж людьми і промовте до них, нехай кожен приводить свою корову і вівцю та й заколює оттут, а тодї нехай їсть, щоб не грішити перед Господом, ївши з кровю. І приводив кожен з людей вола чи що мав при руцї, та й заколювали там.
34Lại tiếp rằng: Hãy đi khắp cơ binh rao rằng mỗi người phải dẫn đến ta chiên và bò mình, và giết đi tại đây. Rồi các ngươi sẽ ăn thịt nó; như vậy các người không phạm tội cùng Đức Giê-hô-va mà ăn thịt lộn với huyết. Thế thì, trong đêm đó, mỗi người trong chúng dẫn súc vật mình có dưới tay, và giết nó trên hòn đá.
35І спорудив Саул жертівника Господеві. Се первий жертівник, що поставив Саул Господеві.
35Sau-lơ bèn lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va; ấy là bàn thờ thứ nhất mà người lập cho Đức Giê-hô-va.
36І наважився Саул: Уганяти мемо й у ночі за Филистіями, і будемо їх непокоїти аж покіль розвидниться; не лишимо й ноги. І промовили: Чини все, як тобі здається гаразд. Та сьвященник промовив: Ходїмо перш перед Господа.
36Đoạn, Sau-lơ nói: Chúng ta hãy đi xuống đuổi theo dân Phi-li-tin trong khi ban đêm, cướp phá chúng nó cho đến sáng sớm, và chớ để sống một ai. Chúng thưa rằng: Hãy làm mọi điều vua lấy làm phải. Thầy tế lễ bèn nói: Chúng ta hãy đến gần Đức Chúa Trời.
37І поспитав Саул у Господа: Чи вганяти менї за Филистіями? Чи подаси їх Ізраїлеві на поталу? Та не було йому того дня нїякого відказу.
37Sau-lơ cầu vấn Đức Chúa Trời rằng: Tôi phải nên xuống đuổi theo dân Phi-li-tin chăng? Ngài sẽ phó chúng nó vào tay Y-sơ-ra-ên chăng? Song lần nầy Đức Chúa Trời chẳng đáp lại lời gì hết.
38І повелїв Саул: Приступіть усї начальники між людьми та розпитайтесь, від кого провина сьогоднї сталась?
38Đoạn, Sau-lơ bảo rằng: Hỡi các quan trưởng của dân sự, hết thảy hãy đến gần đây, xét tìm tội lỗi đã phạm trong ngày nay là sao.
39Бо так вірно, як те, що живе Господь подарувавший Ізраїлеві сьогоднї побіду, коли вона й на синї мойму Йонатанї покажесь, смерть і йому! Та нїхто з усїх людей не відказував йому.
39Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng giải cứu Y-sơ-ra-ên, mà thề rằng kẻ đã phạm tội, dẫu chính là Giô-na-than, con trai ta, cũng phải chết đi! Trong cả dân sự chẳng có ai đáp lời người.
40І повелїв усьому Ізраїлеві: Станьте по однім боцї, а я з сином Йонатаном станемо по другім боцї. А люд відказав Саулові: Чини, що тобі здається гаразд.
40Người bèn nói cùng cả Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi hãy đứng bên này; ta và Giô-na-than, con trai ta, sẽ đứng bên kia. Dân sự thưa rằng: Hãy làm điều vua lấy làm phải.
41Озвавсь тодї Саул: Господи, Боже Ізрайлїв, чом не відказав єси слузї твойму сьогоднї? Коли ся провина вагонить на менї або на мойму синові Йонатанї, Господи, Боже Ізраїлїв, дай нам знак. Коли ж вона на народї твойму, дай йому осьвященнє. І виявлено Йонатана та Саула, люд же вийшов оправданим.
41Sau-lơ thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Oâi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! xin hãy tỏ ra sự thật. Giô-na-than và Sau-lơ bị chỉ ra, còn dân sự thì vô can.
42І повелїв Саул. Жеребуйте між мною й моїм сином Йонатаном. І впав жереб на Йонатана.
42Sau-lơ nói: Hãy bắt thăm cho ta và Giô-na-than, con trai ta.
43Питає ж тодї Саул у Йонатана: Признайсь менї, що ти вчинив? І признавсь йому Йонатан та й каже: Кінцем палицї, що держав у руцї, скоштував я трохи меду — за се менї смерть!
43Giô-na-than bị chỉ ra. Sau-lơ nói cùng Giô-na-than rằng: Hãy tỏ cho ta biết điều ngươi đã làm. Giô-na-than thú thật rằng: Tôi có dùng đầu gậy tôi cầm nơi tay mà nếm chút mật ong; nầy tôi đây phải chết.
44І відказав Саул: Нехай Бог вчинить зо мною се і те, та ще і причинить; мусиш сьогоднї умерти, Йонатане!
44Sau-lơ nói: Hỡi Giô-na-than, nếu ngươi không chết, nguyện Đức Giê-hô-va giáng họa rất nặng trên ta!
45Та люд озвавсь до Саула: Чи ж то Йонатана стратити, що сю велику побіду вчинив в Ізраїлї? Нї, сьому не бути! Як живе Господь, і волосинка не впаде на землю з голови його, бо за Божою підмогою він учинив її. І визволив люд Йонатана від смертї.
45Nhưng dân sự đáp cùng Sau-lơ rằng: Uûa! Giô-na-than là người đã làm cho Y-sơ-ra-ên được đại thắng dường kia, phải chết sao? Điều đó chẳng nên! Chúng tôi chỉ sanh mạng của Đức Giê-hô-va mà thề rằng một sợi tóc trên đầu người sẽ chẳng rụng xuống đất; vì người ở cùng Đức Chúa Trời mà được thắng ngày nay. Như vậy, dân sự giải cứu Giô-na-than, và người khỏi bị xử tử.
46І вернувся Саул від погонї за Филистіями, Филистії ж пійшли собі додому.
46Đoạn, Sau-lơ trở về, chẳng đuổi theo dân Phi-li-tin nữa; và dân Phi-li-tin đều trở về trong xứ mình.
47Утвердивши своє царюваннє над Ізраїлем, воював Саул навкруги проти ворогів своїх: проти Моаба, проти Аммонїїв, проти Едому, проти царя Соби та проти Филистіїв, і куди нї обертавсь, усюди подужував.
47Sau khi Sau-lơ đã cầm quyền nước Y-sơ-ra-ên, thì người giao chiến cùng kẻ thù nghịch mình tứ phía, tức cùng Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm, các vua Xô-ba, và cùng dân Phi-li-tin; hễ người cử binh đến đâu, thì báo thù được đến đó.
48І зібравши військо, побив Амалика і визволив Ізраїля з потали в грабителїв його.
48Người tụ tập quân lính, đánh dân A-ma-léc, và giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay những kẻ cướp phá họ.
49Сини в Саула були: Йонатан, Ессуй, та Мелхисуя, а двох дочок його звали: старшу Мерова, меншу Мелхола.
49Các con trai của Sau-lơ là Giô-na-than, Gi-sê-vi, và Manh-ki-sua, người cũng có hai con gái; lớn, tên là Mê-ráp; nhỏ, tên là Mi-canh;
50А жону Саулову звали Ахиноама Ахимаазова; а гетьмана війська його звали Абенир, син Нира, Саулового дядька.
50vợ của Sau-lơ tên là A-hi-nô-am, con gái của A-hi-mát. Tổng binh của đạo binh người là Aùp-ne, con trai của Nê-rơ, chú của Sau-lơ,
51Як Саулів отець Кис, так і батько Абенирів, Нир, були сини Авиїлові.
51Kích, cha của Sau-lơ và Nê-rơ, cha của Aùp-ne, là con trai của A-bi-ên.
52І була упорна війна з Филистіями покіль було віку Саулового; і де побачить було Саул хороброго і сильного чоловіка, того й приймав до себе.
52Trọn đời Sau-lơ có sự tranh chiến dữ dội cùng dân Phi-li-tin; hễ khi Sau-lơ thấy người mạnh mẽ và bạo dạn, thì chiêu mộ người theo mình.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.