II Sử
Chapter 20
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Kulish and Puluj B…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Sau các việc này, xảy có dân Mô-áp, dân Am-môn, và những người Mao-nít ở cùng họ, kéo đến đặng đánh giặc với Giô-sa-phát
1Після сього зібрались Моабії та Аммонїї, а з ними дехто з землї Маоницької й пійшли війною на Йосафата.
2Bấy giờ, có người đến thuật cho Giô-sa-phát, mà rằng: Có một đám quân rất đông từ bên bờ kia của biển, từ nước Sy-ri, mà đến hạm đánh vua; kìa chúng đang ở tại Hát-sát-son-Tha-ma, cũng gọi là Eân-ghê-đi.
2І прийшли й звістили Йосафатові, говорячи: Йде на тебе велика сила зза моря, з Сириї і оце вони в Газазон-Тамарі, се б то в Енгеддї.
3Giô-sa-phát sợ hãi, rắp lòng tìm cầu Đức Giê-hô-va, và rao khắp xứ Giu-đa phải kiêng ăn một ngày.
3І злякавсь Йосафат, і обернув своє лице шукати Господа, й оповістив піст по всїй Юдеї.
4Giu-đa nhóm lại đặng cầu Đức Giê-hô-va cứu giúp; người ta ở các thành Giu-đa đều đến đặng tìm cầu Đức Giê-hô-va.
4І зібрались Юдеї просити помочі в Господа; з усїх міст Юдиних поприходили вони благати Господа.
5Giô-sa-phát đứng trong hội chúng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, tại trong đền của Đức Giê-hô-va, trước hành lang mới,
5І став Йосафат перед громадою Юдеїв та Ерусалимцїв в домі Господньому, перед новим двором,
6mà cầu nguyện rằng: Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi! Ngài há chẳng phải là Chúa ở trên các từng trời sao? Há chẳng phải Đấng quản trị muôn dân muôn nước sao? ỳ nơi tay Chúa có quyền thế năng lực, chẳng ai chống trả Chúa cho nổi.
6І промовив: Господи, Боже отцїв наших! Чи не ти ж Бог на небі? І ти пануєш над усїма царствами народів, і в твоїй руцї сила й можність, і нїхто не встоїть проти тебе!
7Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi! Ngài há chẳng phải đã đuổi dân ở xứ này khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, mà ban xứ ấy cho dòng dõi Aùp-ra-ham, là bạn hữu Chúa, làm sản nghiệp đời đời sao?
7Чи не ти ж, Боже наш, вигнав осадників сієї землї перед лицем твого народу Ізраїля, і віддав її насїнню Авраама, друга твого, навіки?
8Chúng đã ở đó, và đã cất cho danh Chúa một đền thánh mà rằng:
8І вони оселились у нїй і збудували тобі в нїй сьвятиню на ймя твоє, кажучи:
9Nếu tai họa giáng trên chúng tôi, hoặc gươm giáo, hoặc sự đoán phạt, hoặc dịch hạch, hay là cơn đói kém, thì chúng tôi sẽ đứng trước đền này và trước mặt Chúa (vì danh Chúa ở trong đền này), mà kêu cầu Chúa trong sự gian nan chúng tôi, thì Chúa sẽ dủ nghe và giải cứu cho.
9Як прийде на нас нещастє: караючий меч, або пошесть, або голод, то ми станемо перед сим домом і перед лицем твоїм, бо твоє імення в сьому домі; і покликнемо до тебе в нашому горю, а ти почуєш і поратуєш.
10Trong lúc dân Y-sơ-ra-ên từ xứ Ê-díp-tô lên, Chúa có cấm họ loán đến xứ dân Am-môn, dân Mô-áp, và người ở núi Sê-i-rơ; dân Y-sơ-ra-ên xây khỏi chúng nó, không diệt chúng nó đi;
10І тепер оце Аммонїї та Моабії й ті, що з гори Сеїра, що через їх землї ти не дозволив перейти Ізрайлитянам, як вони йшли з землї Египецької, через що вони їх обминули й не вигубили їх, —
11kìa, chúng nó báo lại chúng tôi dường nào, đến toan đuổi chúng tôi khỏi sản nghiệp Chúa đã ban cho chúng tôi nhận lấy.
11Оце вони платять нам тим, що прийшли вигнати нас із наслїдної держави твоєї, котру ти віддав нам.
12Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi ôi, chớ thì Ngài sẽ không xét đoán chúng nó sao? Vì nơi chúng tôi chẳng còn sức lực gì đối địch cùng đám quân đông đảo này đang đến hãm đánh chúng tôi, và chúng tôi cũng không biết điều gì mình phải làm; nhưng con mắt chúng tôi ngửa trông Chúa!
12Боже наш! суди їх ти. Бо в нас нема сили проти товпи сієї великої, прийшовшої на нас, і ми не відаємо, що робити, а тілько до тебе очі наші!
13Cả Giu-đa đều đứng tại trước mặt Đức Giê-hô-va với các đứa nhỏ, vợ, và con cái mình.
13І стояли усї Юдеї перед лицем Господнїм, і малі дїти їх, і жінки їх, і сини їх.
14Bấy giờ, tại giữa hội chúng, Thần Đức Giê-hô-va cảm động Gia-ha-xi-ên, con trai Xa-cha-ri, cháu Bê-na-gia, chắt Giê-hi-ên, chít Ma-tha-nia, là người Lê-vi thuộc về dòng A-sáp,
14Тодї найшов на Йозиїла, сина Захарії, сина Банеї, сина Еїєла, сина Маттанїї, левіта з синів Асафових, Дух Господень посеред збору,
15mà phán rằng: Hỡi các người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem, cùng vua Giô-sa-phát, hãy nghe! Đức Giê-hô-va phán cho các ngươi như vầy: Chớ sợ, chớ kinh hãi bởi cớ đám quân đông đảo này: vì trận giặc này chẳng phải của các ngươi đâu, bèn là của Đức Chúa Trời.
15І він промовив: Слухайте, всї Юдеї й осадники Ерусалимські, та й ти, царю Йосафате! Так говорить Господь до вас: Не бійтесь і не лякайтесь сієї великої орди, бо не ваша се війна, а Божа.
16Ngày mai, hãy đi xuống đón chúng nó: kìa, chúng nó đi lên dốc Xít, các ngươi sẽ gặp chúng nó nơi đầu trũng, trước mặt đồng vắng Giê-ru-ên.
16Завтра виступите проти їх; он вони виходять на верховину Зиз, і ви знайдете їх край долини, перед пустинею Еруїлом.
17Trong trận này các ngươi sẽ chẳng cần gì tranh chiến; hãy dàn ra, đứng yên lặng mà xem thấy sự giải cứu của Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi. Hỡi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem! chớ sợ, chớ kinh hãi; ngày mai, hãy đi ra đón chúng nó, vì Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi.
17Не ви будете битись сим разом; ви виступіть, стійте та дивіться на спасеннє Господнє для вас. Юдо та Ерусалиме! не бійтесь і не жахайтесь. Завтра виступите їм на зустріч, і Господь буде при вас.
18Giô-sa-phát bèn cúi sấp mặt xuống đất; và cả Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem đều sấp mặt xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, mà thờ lạy Ngài.
18І припав Йосафат лицем до землї, й усї Юдеї та осадники Ерусалимські впали перед Господом, щоб поклонитись Господеві.
19Người Lê-vi về dòng Kê-hát và về dòng Cô-rê đều đứng dậy cất tiếng lớn mà khen ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
19І встали левіти з синів Кагатових та з синів Кореєвих — славити Господа, Бога Ізрайлевого, вельми грімким голосом.
20Buổi sớm mai, chúng đều chổi dậy thật sớm, kéo ra đồng vắng Thê-cô-a; đang lúc chúng đi, Giô-sa-phát đứng tại đó, mà nói rằng: Hỡi người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem! hãy nghe ta: Khá tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, thì các ngươi sẽ vững chắc; hãy tin các đấng tiên tri Ngài, thì các ngươi sẽ được may mắn.
20І повставали вони раннїм ранком і виступили до Текойської пустинї, і як виступили, став Йосафат і промовив: Слухайте мене, Юдеї та й ви осадники Ерусалиму! Майте віру в Господа, Бога вашого, й будьте безпечні; йміть віри пророкам його, а пощаститься вам.
21Khi người đã bàn nghị với dân sự, bèn lập những người ca xướng cho Đức Giê-hô-va mặc áo lễ thánh mà đi ra trước cơ binh ngợi khen Chúa rằng: Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì sự thương xót Ngài hằng có đời đời.
21І порадився він з народом, і поставив сьпівцїв Господнїх, щоб вони в сьвятостї й побожностї, виступивши поперед узброєних, славили висьпівуючи: хвалїте Господа, бо віковічна милость його!
22Đang lúc chúng khởi ca hát và ngợi khen thì Đức Giê-hô-va đặt phục binh xông vào dân Am-môn, dân Mô-áp và những kẻ ở núi Sê-i-rơ đã đến hãm đánh Giu-đa; và các dân ấy đều bị bại.
22І в той час, як вони стали викликати і славити, розбудив Господь незгоду між Аммонїями, Моабіями та горянами з Сеїра, що прийшли на Юдею, й вони побили себе;
23Dân Am-môn và dân Mô-áp dấy lên đánh dân ở núi Sê-i-rơ, đặng diệt chúng nó đi; khi đã diệt dân ở Sê-i-rơ rồi, thì chúng lại trở giết lẫn nhau.
23Бо піднялись Аммонїї та Моабії проти горян Сеїрських, побиваючи й вигублюючи їх, а коли скінчили з Сеїріями, стали вбивати один одного.
24Khi dân Giu-đa đến tháp canh nơi đồng vắng, nhìn đến đám quân đông đảo, thì thấy những thây nằm sãi trên đất, chẳng có một ai thoát khỏi được.
24І коли Юдеї прийшли на вершину, що ʼк пустинї, і глянули на ту орду, аж ось — по землї лежать самі трупи, нїхто не зістався.
25Giô-sa-phát và dân sự người đến cướp lấy tài vật của chúng, thấy có nhiều của cải, xác chết, và đồ quí báu, bèn cướp lấy cho đến chừng đem đi không đặng; họ cướp lấy tài vật trong ba ngày, vì là rất nhiều.
25І прийшов Йосафат і народ його забірати добичу, й знайшли в їх силу всякого добра, й одежу, й дорогі річі, й понабірали собі стільки, що не змогли нести. І три дні забірали вони, здобуток, так богато його було!
26Qua ngày thứ tư, họ nhóm hiệp tại trũng Bê-ra-ca, vì nơi đó họ ngợi khen Đức Giê-hô-va; bởi cớ ấy người ta đặt tên chỗ đó là trũng Bê-ra-ca cho đến, ngày nay.
26А четвертого дня зібрались на Долинї хвали, бо там вони хвалили Господа. Через те й звуть те місце Долиною хвали до сього часу.
27Hết thảy người Giu-đa và người Giê-ru-sa-lem cùng Giô-sa-phát đi đầu trước, trở về Giê-ru-sa-lem cách vui vẻ; vì Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng vui mừng, vì cớ quân thù nghịch mình bị đánh bại.
27І пійшли назад усї Юдеї та Ерусалимцї й Йосафат на чолї в їх, щоб вертати в Ерусалим з радощами, що Господь дав їм перевагу над ворогами їх.
28Chúng gảy đàn cầm, đàn sắt, và thổi sáo mà trở về Giê-ru-sa-lem, đến đền của Đức Giê-hô-va.
28І прибули в Ерусалим з псалтирями й цитрами та трубами до дому Господнього.
29Khi các nước thiên hạ nghe Đức Giê-hô-va đã đánh bại quân thù nghịch của Y-sơ-ra-ên, thì lấy làm kinh hãi Đức Chúa Trời.
29І був страх Божий по всїх царствах земель (пограничнїх), як почули, що сам Господь воював проти ворогів Ізрайлевих.
30Vậy, nước của Giô-sa-phát được hòa bình, vì Đức Chúa Trời người ban cho người sự an nghỉ bốn bên.
30І стало спокійне царство Йосафатове, й дав йому Бог його спокій звідусїль.
31Vậy, Giô-sa-phát làm vua nước Giu-đa; khi lên ngôi thì tuổi được ba mươi lăm, và người cai trị hai mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem; tên mẹ người là A-xu-ba, con gái của Si-li.
31Так царював Йосафат в Юдеї: трийцять пять років було йому, як став він царем, а двайцять пять років царював в Ерусалимі. Його мати звалась Азува, дочка Салаїлова.
32Người đi theo con đường của A-sa, cha người, không lìa bỏ, làm điều ngay thẳng trước mặt Đức Giê-hô-va.
32І ходив він дорогою батька свого Аси, і не відхилявся від неї, та чинив що було до вподоби Господеві.
33Song người không trừ bỏ các nơi cao, và dân sự chưa dốc lòng tìm cầu Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.
33Тільки висоти не були знесені, й народ ще не направив серця свого до Бога батьків своїх.
34Các công việc khác của Giô-sa-phát từ đầu đến cuối, đều chép trong truyện Giê-hu, con trai Ha-na-ni, và truyện ấy đã đem vào sách các vua Y-sơ-ra-ên.
34Прочі дїї Йосафатові, перші й останні, записані в записках Іуя Ананїєнка, що поміщені в книзї царів Ізраїлських.
35Sau việc đó, Giô-sa-phát, vua Giu-đa, kết giao với A-cha-xia, vua Y-sơ-ra-ên; người này ăn ở rất gian ác.
35Але потім побратався Йосафат, царь Юдейський, з Охозією, царем Ізраїлським, що був безбожний в дїлах своїх,
36Hai vua hội hiệp nhau đặng đóng tàu vượt đi Ta-rê-si; họ đóng tàu tại Ê-xi-ôn-Ghê-be.
36І єдинився з ним, щоб побудувати кораблї, й посилати їх у Тарсис; і збудували вони кораблї в Езіон-Габері.
37Khi ấy, Ê-li-ê-xe, con trai Đô-đa-va ở Ma-rê-sa, nói tiên tri về vua Giô-sa-phát, mà rằng: Bởi vì vua kết giao với A-cha-xia, nên Đức Giê-hô-va đã hủy phá công việc vua; những tàu bèn bị bể nát, không vượt đi Ta-rê-si được.
37І вирік тодї Елїезер Додабенко з Мареші пророцтво на Йосафата, кажучи: За те, що ти пристав до спілки з Охозією, ударемнить Господь дїло твоє. — І розбились кораблї, й не могли плисти у Тарсис.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.