II Sử
Chapter 20
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Sau các việc này, xảy có dân Mô-áp, dân Am-môn, và những người Mao-nít ở cùng họ, kéo đến đặng đánh giặc với Giô-sa-phát
1Hae pacoengah, Moab kaminawk hoi Amon kaminawk loe thoemto Syria kaminawk hoi angbomh o moe, Jehosaphat tuk hanah angzoh o.
2Bấy giờ, có người đến thuật cho Giô-sa-phát, mà rằng: Có một đám quân rất đông từ bên bờ kia của biển, từ nước Sy-ri, mà đến hạm đánh vua; kìa chúng đang ở tại Hát-sát-son-Tha-ma, cũng gọi là Eân-ghê-đi.
2Thoemto kaminawk Jehosaphat khaeah angzoh o moe, anih khaeah, Tuipui yaeh ih Syria prae thung hoiah nang tuk hanah paroeai misatuh kaminawk angzoh o; khenah, nihcae loe En-Gedi, tiah kawk ih Hazazon-tamar vangpui ah phak o boeh, tiah a naa o.
3Giô-sa-phát sợ hãi, rắp lòng tìm cầu Đức Giê-hô-va, và rao khắp xứ Giu-đa phải kiêng ăn một ngày.
3Jehosaphat loe zit moe, Angraeng khaeah lokdueng hanah poek; Judah prae boih ah buhzah hanah lok a paek.
4Giu-đa nhóm lại đặng cầu Đức Giê-hô-va cứu giúp; người ta ở các thành Giu-đa đều đến đặng tìm cầu Đức Giê-hô-va.
4Judah kaminawk loe Angraeng khaeah abomhaih hnik hanah nawnto amkhueng o; Angraeng pakrong hanah, Judah prae vangpui kruek ih kaminawk to angzoh o.
5Giô-sa-phát đứng trong hội chúng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, tại trong đền của Đức Giê-hô-va, trước hành lang mới,
5Jehosaphat loe Angraeng im longhma kangtha, Judah hoi Jerusalem ih kaminawk salakah angdoet moe,
6mà cầu nguyện rằng: Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi! Ngài há chẳng phải là Chúa ở trên các từng trời sao? Há chẳng phải Đấng quản trị muôn dân muôn nước sao? ỳ nơi tay Chúa có quyền thế năng lực, chẳng ai chống trả Chúa cho nổi.
6aw kaicae ampanawk ih Angraeng Sithaw, nang loe van ah kaom Sithaw na ai maw? Nang loe van praenawk boih ukkung ah na ai maw na oh; mi mah doeh pazawk thaih han ai ah, thacakhaih hoi lensawkhaih loe na ban ah na ai maw oh?
7Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi! Ngài há chẳng phải đã đuổi dân ở xứ này khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, mà ban xứ ấy cho dòng dõi Aùp-ra-ham, là bạn hữu Chúa, làm sản nghiệp đời đời sao?
7Nang loe kaicae ih Sithaw ah na oh, nangmah ih kami Israelnawk hmaa ah, hae prae kaminawk hae na haek moe, nam pui Abraham ih caanawk khaeah dungzan khoek to na paek boeh na ai maw?
8Chúng đã ở đó, và đã cất cho danh Chúa một đền thánh mà rằng:
8Nihcae loe hae prae thungah oh o moe, Nang ih ahmin hanah hmuenciim to sak o pacoengah,
9Nếu tai họa giáng trên chúng tôi, hoặc gươm giáo, hoặc sự đoán phạt, hoặc dịch hạch, hay là cơn đói kém, thì chúng tôi sẽ đứng trước đền này và trước mặt Chúa (vì danh Chúa ở trong đền này), mà kêu cầu Chúa trong sự gian nan chúng tôi, thì Chúa sẽ dủ nghe và giải cứu cho.
9kaicae nuiah sumsen maw, lokcaekhaih maw, to tih ai boeh loe kasae nathaih hoi khokhaahaih phak naah, to tih ai boeh loe patangkhanghaih ka tongh o naah, nang ih ahmin loe hae im thungah oh pongah, hae im thungah na hmaa ah kang doet o moe, nang kang kawk o naah, nang mah pathim ueloe, nang bomh tih.
10Trong lúc dân Y-sơ-ra-ên từ xứ Ê-díp-tô lên, Chúa có cấm họ loán đến xứ dân Am-môn, dân Mô-áp, và người ở núi Sê-i-rơ; dân Y-sơ-ra-ên xây khỏi chúng nó, không diệt chúng nó đi;
10Toe vaihiah khenah, Israel caanawk Izip prae thung hoi tacawt o naah, nihcae to na naehsak ai; nihcae to tuh ai ah, amlaem o taak; Amon, Moab hoi Seir mae ah kaom kaminawk loe,
11kìa, chúng nó báo lại chúng tôi dường nào, đến toan đuổi chúng tôi khỏi sản nghiệp Chúa đã ban cho chúng tôi nhận lấy.
11kaicae han qawk ah nang paek ih prae thung hoiah kaicae hae ang haek o moe, lu pathok hanah angzoh o boeh.
12Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi ôi, chớ thì Ngài sẽ không xét đoán chúng nó sao? Vì nơi chúng tôi chẳng còn sức lực gì đối địch cùng đám quân đông đảo này đang đến hãm đánh chúng tôi, và chúng tôi cũng không biết điều gì mình phải làm; nhưng con mắt chúng tôi ngửa trông Chúa!
12Aw kaicae ih Sithaw, nihcae to lok na caek mak ai maw? Kaicae tuk han angzo paroeai pop misatuh kaminawk tuk thaihaih tha ka tawn o ai; timaw ka sak o han, ka panoek o ai boeh; kaicae loe nang khue ni kang khet o, tiah lawk a thuih.
13Cả Giu-đa đều đứng tại trước mặt Đức Giê-hô-va với các đứa nhỏ, vợ, và con cái mình.
13Judah kaminawk loe caa nawktanawk, a zunawk hoi a caanawk boih hoiah Angraeng hmaa ah angdoet o.
14Bấy giờ, tại giữa hội chúng, Thần Đức Giê-hô-va cảm động Gia-ha-xi-ên, con trai Xa-cha-ri, cháu Bê-na-gia, chắt Giê-hi-ên, chít Ma-tha-nia, là người Lê-vi thuộc về dòng A-sáp,
14To pacoengah minawk salakah kaom Jahaziel nuiah Angraeng ih Muithla to angzoh; anih loe Zekariah ih capa, anih loe Benaiah ih capa, anih loe Jeiel ih capa, anih loe Mattaniah capa, anih loe Levi acaeng, Asaph ih capa ah oh.
15mà phán rằng: Hỡi các người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem, cùng vua Giô-sa-phát, hãy nghe! Đức Giê-hô-va phán cho các ngươi như vầy: Chớ sợ, chớ kinh hãi bởi cớ đám quân đông đảo này: vì trận giặc này chẳng phải của các ngươi đâu, bèn là của Đức Chúa Trời.
15Anih mah, Siangpahrang Jehosaphat, Judah kaminawk hoi Jerusalem vangpui ah kaom kaminawk boih, tahngai oh; nangcae khaeah Angraeng mah hae tiah lokthuih; hae ih kapop parai misatuh kaminawk hae zii o hmah loe, thasae o sak hmah; misatukhaih loe nangcae ih tok na ai, Angraeng ih tok ni.
16Ngày mai, hãy đi xuống đón chúng nó: kìa, chúng nó đi lên dốc Xít, các ngươi sẽ gặp chúng nó nơi đầu trũng, trước mặt đồng vắng Giê-ru-ên.
16Khawnbangah nihcae tuk hanah caeh oh; khenah, nihcae loe Ziz vangpui caehhaih tahawt kathuk hoiah angzoh o tahang; nihcae to Jeruel praezaek pha ai naah kaom, tahawt boenghaih ahmuen ah na hnu o tih.
17Trong trận này các ngươi sẽ chẳng cần gì tranh chiến; hãy dàn ra, đứng yên lặng mà xem thấy sự giải cứu của Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi. Hỡi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem! chớ sợ, chớ kinh hãi; ngày mai, hãy đi ra đón chúng nó, vì Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi.
17Aw Judah hoi Jerusalem kaminawk, hae misa hae na tuk o han angai ai; nang doethaih ahmuen ah kacakah angdoe oh loe, Angraeng pahlonghaih to khen oh; zii o hmah loe, thasae o sak hmah; nihcae tongh hanah khawnbangah caeh oh; Angraeng loe nangcae hoi nawnto om tih, tiah a naa.
18Giô-sa-phát bèn cúi sấp mặt xuống đất; và cả Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem đều sấp mặt xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, mà thờ lạy Ngài.
18Jehosaphat loe long ah akuep; Judah hoi Jerusalem ih kaminawk boih, Angraeng hmaa ah akuep o moe, Angraeng to bok o.
19Người Lê-vi về dòng Kê-hát và về dòng Cô-rê đều đứng dậy cất tiếng lớn mà khen ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
19Levi acaeng Kohat kaminawk hoi Korhit kaminawk loe angdoet o moe, Israel Angraeng Sithaw to tha hoi saphaw o.
20Buổi sớm mai, chúng đều chổi dậy thật sớm, kéo ra đồng vắng Thê-cô-a; đang lúc chúng đi, Giô-sa-phát đứng tại đó, mà nói rằng: Hỡi người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem! hãy nghe ta: Khá tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, thì các ngươi sẽ vững chắc; hãy tin các đấng tiên tri Ngài, thì các ngươi sẽ được may mắn.
20Khawnbang khawnthaw ah angthawk o moe, Tekoa praezaek ah caeh o; a caeh o li naah Jehosaphat mah angdoet moe, Judah hoi Jerusalem kaminawk, ka lok hae tahngai oh! Na Angraeng Sithaw to tang oh; to tiah nahaeloe kacakah na om o tih; anih ih tahmaanawk nuiah tanghaih tawn oh, to tiah nahaeloe na pazawk o tih, tiah a naa.
21Khi người đã bàn nghị với dân sự, bèn lập những người ca xướng cho Đức Giê-hô-va mặc áo lễ thánh mà đi ra trước cơ binh ngợi khen Chúa rằng: Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì sự thương xót Ngài hằng có đời đời.
21Kaminawk khaeah lokdueng pacoeng, Angraeng amlunghaih loe dungzan khoek to kacak amlunghaih ah oh pongah, Angraeng saphawhaih om nasoe, tiah thuih hanah, misatuh kaminawk hmaa ah caeh o; kranghoih Angraeng ciimcaihaih to saphaw o hanah, laasah kaminawk to Angraeng hanah a suek.
22Đang lúc chúng khởi ca hát và ngợi khen thì Đức Giê-hô-va đặt phục binh xông vào dân Am-môn, dân Mô-áp và những kẻ ở núi Sê-i-rơ đã đến hãm đánh Giu-đa; và các dân ấy đều bị bại.
22Nihcae mah saphawhaih laasak amtong o naah, Judah prae tuk hanah angzo, Amon kaminawk, Moab kaminawk hoi Sier mae nui ah kaom kaminawk to Angraeng mah a ngangsak moe, nihcae to tuk pazawk o boih.
23Dân Am-môn và dân Mô-áp dấy lên đánh dân ở núi Sê-i-rơ, đặng diệt chúng nó đi; khi đã diệt dân ở Sê-i-rơ rồi, thì chúng lại trở giết lẫn nhau.
23Amon hoi Moab kaminawk loe Seir mae nui ih kaminawk to hum moe, tamit boih hanah angthawk o; Seir mae nui ah kaom kaminawk to hum o moe, tamit o boih pacoengah, angmacae hoi angmacae to anghum o.
24Khi dân Giu-đa đến tháp canh nơi đồng vắng, nhìn đến đám quân đông đảo, thì thấy những thây nằm sãi trên đất, chẳng có một ai thoát khỏi được.
24Judah kaminawk loe praezaek ih misatoephaih imsang to phak o moe, pop parai misatuh kaminawk to khet o naah, to ih kaminawk loe mi doeh loih o ai; long ah angsong kami qok cing ni a hnuk o.
25Giô-sa-phát và dân sự người đến cướp lấy tài vật của chúng, thấy có nhiều của cải, xác chết, và đồ quí báu, bèn cướp lấy cho đến chừng đem đi không đặng; họ cướp lấy tài vật trong ba ngày, vì là rất nhiều.
25To pongah Jehosaphat hoi angmah ih kaminawk loe, misanawk ih hmuenmae to lak hanah caeh o; kadueh kaminawk khae ih paroeai kapop hmuenmaenawk hoi atho kana thlungnawk to lak pae o; to ih hmuenmaenawk loe phaw thai ai khoek to pop; hmuenmae pop hmoek pongah ni thumto thung a lak o.
26Qua ngày thứ tư, họ nhóm hiệp tại trũng Bê-ra-ca, vì nơi đó họ ngợi khen Đức Giê-hô-va; bởi cớ ấy người ta đặt tên chỗ đó là trũng Bê-ra-ca cho đến, ngày nay.
26Ni palito naah loe Berakah azawn ah amkhueng o moe, Angraeng to tahamhoihaih paek o; to pongah to ahmuen to vaihni ni khoek to Berakah azawn, tiah kawk o.
27Hết thảy người Giu-đa và người Giê-ru-sa-lem cùng Giô-sa-phát đi đầu trước, trở về Giê-ru-sa-lem cách vui vẻ; vì Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng vui mừng, vì cớ quân thù nghịch mình bị đánh bại.
27Angraeng mah nihcae ih misa nuiah anghoehaih paek pongah, Jehosaphat mah Judah hoi Jerusalem ih kaminawk to hoih boih moe, anghoehaih hoiah Jerusalem ah amlaem o.
28Chúng gảy đàn cầm, đàn sắt, và thổi sáo mà trở về Giê-ru-sa-lem, đến đền của Đức Giê-hô-va.
28Jerusalem ah katoeng congca, aqui kapop katoeng hoi mongkah uenghaih hoiah Angraeng im thungah caeh o.
29Khi các nước thiên hạ nghe Đức Giê-hô-va đã đánh bại quân thù nghịch của Y-sơ-ra-ên, thì lấy làm kinh hãi Đức Chúa Trời.
29Angraeng mah Israel caanawk ih misa to tuk pae ti, tiah ataeng ih prae kaminawk mah thaih o naah, nihcae boih nuiah Sithaw zithaih to oh.
30Vậy, nước của Giô-sa-phát được hòa bình, vì Đức Chúa Trời người ban cho người sự an nghỉ bốn bên.
30Angmah ih Sithaw mah ataeng boih ah monghaih to paek pongah, Jehosaphat ih prae loe khosak nawmhaih hoiah koi.
31Vậy, Giô-sa-phát làm vua nước Giu-đa; khi lên ngôi thì tuổi được ba mươi lăm, và người cai trị hai mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem; tên mẹ người là A-xu-ba, con gái của Si-li.
31To tiah Jehosaphat loe Judah siangpahrang ah oh; Judah siangpahrang ah oh naah saning quithum, pangato oh moe, Jerusalem to saning pumphae pangato thung uk; amno ih ahmin loe Shilhi canu Azubah.
32Người đi theo con đường của A-sa, cha người, không lìa bỏ, làm điều ngay thẳng trước mặt Đức Giê-hô-va.
32Anih loe ampa Asa caehhaih loklam ah caeh, loklam amkhraeng taak ai; Angraeng mikhnukah katoeng hmuen to sak.
33Song người không trừ bỏ các nơi cao, và dân sự chưa dốc lòng tìm cầu Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.
33Toe hmuensangnawk to va boih ai; kaminawk loe angmacae ampanawk ih Sithaw nuiah palungthin suem o ai toengtoeng vop.
34Các công việc khác của Giô-sa-phát từ đầu đến cuối, đều chép trong truyện Giê-hu, con trai Ha-na-ni, và truyện ấy đã đem vào sách các vua Y-sơ-ra-ên.
34Siangpahrang Jehosaphat mah amtonghaih hoi boeng khoek to sak ih hmuennawk loe, Hanani capa Jehu ih cabu pongah tarik o; to hmuennawk loe Israel siangpahrangnawk ih cabu pongah tarik o.
35Sau việc đó, Giô-sa-phát, vua Giu-đa, kết giao với A-cha-xia, vua Y-sơ-ra-ên; người này ăn ở rất gian ác.
35Hnukkhuem ah Judah siangpahrang Jehosaphat loe, kasae hmuen sak koeh Israel siangpahrang Ahaziah hoiah angkom.
36Hai vua hội hiệp nhau đặng đóng tàu vượt đi Ta-rê-si; họ đóng tàu tại Ê-xi-ôn-Ghê-be.
36Anih loe Tarshish vangpui ah kacaeh palongpui to sak hanah Israel siangpahrang hoiah angkom; nihnik loe Ezion-Gezer ah palongpui to a sak hoi.
37Khi ấy, Ê-li-ê-xe, con trai Đô-đa-va ở Ma-rê-sa, nói tiên tri về vua Giô-sa-phát, mà rằng: Bởi vì vua kết giao với A-cha-xia, nên Đức Giê-hô-va đã hủy phá công việc vua; những tàu bèn bị bể nát, không vượt đi Ta-rê-si được.
37Mareshah ih kami Dodavah capa Eliezer mah, Jehosaphat koeh aihaih lok to thuih; Ahaziah hoiah nang kom pongah, Angraeng mah na sak ih hmuen to phrae tih, tiah a naa. Palongpuinawk loe amro moe, Tarshish vangpui ah doeh caeh hoi thai ai.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.