II Sử
Chapter 36
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Dân sự của xứ bèn lập Giô-a-cha, con trai Giô-si-a, làm vua thay vì cha người tại Giê-ru-sa-lem.
1To pacoengah prae kaminawk mah Josiah capa Jehoahaz to lak o moe, ampa zuengah Jerusalem ah siangpahrang ah suek o.
2Giô-a-cha được hai mươi ba tuổi khi lên ngôi làm vua, và cai trị ba tháng tại Giê-ru-sa-lem.
2Jehoahaz siangpahrang ah oh amtong naah saning pumphae thumto oh boeh; anih mah Jerusalem to khrah thumto thung uk.
3Vua Ê-díp-tô truất ngôi người tại Giê-ru-sa-lem, và bắt vạ xứ một trăm ta lâng bạc và một ta lâng vàng.
3Izip siangpahrang mah angraeng tangkhang hoi anghumsak tathuk moe, Judah khaeah sumkanglung talent cumvaito hoi sui talent maeto tamut ah paeksak.
4Đoạn, vua Ê-díp-tô lập Ê-li-a-kim, em Giô-a-cha, làm vua của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, và đổi tên người ra là Giê-hô-gia-kim. Nê-cô bắt Giô-a-cha, anh của Giê-hô-gia-kim, đem người về xứ Ê-díp-tô.
4Izip siangpahrang mah Jehoahaz ih amnawk Eliakim to Judah hoi Jerusalem ah siangpahrang ah suek moe, Eliakim to Jehoiakim, tiah ahmin to paek. Toe Neko mah Eliakim ih amya Jehoiakim to Izip prae ah caeh haih.
5Giê-hô-gia-kim được hai mươi lăm tuổi khi người lên ngôi làm vua; người cai trị mười một năm tại Giê-ru-sa-lem, và làm điều ác trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của người.
5Jehoiakim siangpahrang toksak amtong naah saning pumphae pangato oh boeh; anih mah Jerusalam to saning hatlaito thung uk: anih loe angmah ih Angraeng Sithaw hmaa ah kahoih ai hmuen to sak.
6Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đi lên hãm đánh người, xiềng người lại, và dẫn người qua Ba-by-lôn.
6To pongah Babylon siangpahrang Nebukhadnezzar mah caeh moe, Babylon ah hoih hanah, anih to sumqui hoiah pathlet.
7Nê-bu-cát-nết-sa cũng đoạt lấy đem về Ba-by-lôn những khí dụng của đền Đức Giê-hô-va, rồi để vào trong miễu người tại Ba-by-lôn.
7Nebukhednazar loe Angraeng imthung ih laom sabaenawk to lak moe, angmah ih tempul thungah suek.
8Các công việc khác của Giê-hô-gia-kim những sự gớm ghiếc người đã làm, và sự đã tìm được trong lòng người, thảy đều chép trong sách các vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Giê-hô-gia-kin, con trai người, cai trị thế cho người.
8Jehoiakim siangpahrang ah oh nathung, a sak ih hmuennawk, a sak ih panuet thok hmuennawk hoi a poekhaih palungthinnawk boih loe Israel hoi Judah siangpahrangnawk ih cabu thungah tarik o. To pacoengah a capa Jehoiachin mah anih zuengah prae to uk.
9Giê-hô-gia-kin được mười tám tuổi khi người lên ngôi làm vua, và cai trị ba tháng mười ngày tại Giê-ru-sa-lem. Người làm điều ác tại trước mặt Đức Giê-hô-va.
9Jehoiachin siangpahrang ah oh amtong naah saning tazetto oh boeh; anih mah Jerusalem to khrah thumto pacoeng, ni hato thung uk; anih loe Angraeng mikhnukah kasae hmuen to sak.
10Sang đầu năm, vua Nê-bu-cát-nết-sa sai bắt người dẫn về Ba-by-lôn, cùng đoạt lấy đem về các vật tốt đẹp của đền Đức Giê-hô-va, rồi lập Sê-đê-kia, em người, làm vua Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
10Saning boeng tom naah loe, Nebukhadnezzar siangpahrang mah kami patoeh moe, anih to Babylon ah hoih sak, Angraeng imthung ih atho kana laom sabaenawk boih to sinsak moe, Jehoiachin ih amnawk Zedekiah to Judah hoi Jerusalem ukkung siangpahrang ah suek.
11Sê-đê-kia được hai mươi mốt tuổi, khi người lên ngôi làm vua, và cai trị mười một năm tại Giê-ru-sa-lem.
11Zedekiah siangpahrang ah oh tangsuek naah, saning pumphaeto pacoeng, saningto oh boeh; anih mah Jerusalem to saning hatlaito thung uk.
12Người làm điều ác trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của người, không hạ mình xuống trước mặt Giê-rê-mi, là đấng tiên tri vâng mạng Đức Giê-hô-va mà khuyên bảo người.
12Anih loe angmah ih Angraeng Sithaw mikhnukah kahoih ai hmuen to sak, Angraeng ih pakha thung hoi lokthuikung tahmaa Jeremiah hmaa ah a poekhaih to pahnaem ai.
13Người cũng dấy lên nghịch cùng vua Nê-bu-cát-nết-sa, là vua đã buộc người chỉ Đức Chúa Trời mà thề; song người lại cứng cổ rắn lòng, không khứng trở về cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
13Sithaw ih ahmin hoiah lokkamhaih sah pae kami, Nebukhadnezzar doeh anih mah misa angthawk thuih; anih loe tahnong amtaksak moe, palung doeh thah parai pongah, Israel Angraeng Sithaw khaeah amlaem ai.
14Những thầy tế lễ cả và dân sự đều theo những sự gớm ghiếc của các dân ngoại bang mà phạm tội lỗi nhiều quá đỗi; làm cho ô uế đền của Đức Giê-hô-va mà Ngài đã biệt riêng ra thánh tại Giê-ru-sa-lem.
14Kalen koek qaimanawk hoi prae kaminawk boih doeh, Sithaw panoek ai kaminawk baktih toengah panuet thok zaehaih to sak o; Angraeng angmah Jerusalem ah ciimsak ih Angraeng ih im to amhnong o sak.
15Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng, vì có lòng thương xót dân sự và đền của Ngài; nên hằng sai sứ giả đến cùng chúng;
15Anih ampanawk ih Angraeng Sithaw mah angmah ih kaminawk hoi a ohhaih ahmuen to tahmen pongah, khawnthaw ah angthawk moe, angmah ih laicaehnawk patohhaih rang hoiah lok a thuih pae langlacadoeh,
16nhưng chúng nhạo báng sứ giả của Đức Chúa Trời, khinh bỉ các lời phán Ngài, cười nhạo những tiên tri của Ngài, cho đến đỗi cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân sự Ngài, chẳng còn phương chữa được.
16Sithaw ih laicaehnawk to pahnuih o thuih, a thuih ih loknawk to tidoeh sah pae o ai, anih ih tahmaanawk to pacaekthlaek pae o pongah, angmah ih kaminawk nuiah boeng thai ai Angraeng palungphui to phak.
17Vì vậy, Đức Chúa Trời khiến vua dân Canh-đê lên hãm đánh chúng, người dùng gươm giết những trai trẻ của chúng tại đền thánh họ; người chẳng thương xót đến, hoặc trai trẻ, nữ đồng trinh, già cả, hay là kẻ đầu bạc: Ngài phó hết thảy vào tay của vua Canh-đê.
17To pongah nihcae tuk hanah Khaldea siangpahrang to kawk pae; anih mah a caa thendoengnawk to hmuenciim ah sumsen hoiah hum pae; thendoeng, tangla, nongpa mitong hoi nongpata mitongnawk doeh pathlung ai; Sithaw mah nihcae boih Nebukhadnezzar ban ah paek.
18Các khí dụng nhỏ và lớn của đền Đức Chúa Trời, các bửu vật của đền Đức Giê-hô-va, các bửu vật của vua và của các quan trưởng vua, cả thảy đều bị đem qua Ba-by-lôn.
18Sithaw imthung ih laom sabaenawk boih, kathoeng doeh kalen doeh, Angraeng im ih hmuennawk, siangpahrang hoi angmah angraengnawk ih hmuennawk boih Babylon ah sinh pae king.
19Chúng đốt đền Đức Chúa Trời, đánh đổ vách thành Giê-ru-sa-lem, lấy lửa đốt các cung điện, và phá hủy các khí dụng tốt đẹp của nó.
19Nihcae mahg Sithaw im to hmai hoiah thlaek o moe, Jerusalem sipae to phraek o; siangpahrang imnawk boih doeh hmai hoiah thlaek pae o; atho kaom to ih laom sabaenawk to paro pae o boih.
20Phàm ai thoát khỏi gươm, thì người bắt đem qua Ba-by-lôn; chúng làm tôi mọi cho người và cho con trai người cho đến đời nước Phe-rơ-sơ hưng khởi;
20Sumsen hoi loih kaminawk to Babylon ah hoih o moe, Persia prae ukhaih pha ai karoek to, siangpahrang hoi a capanawk ih tamna ah oh o.
21để cho ứng nghiệm lời của Đức Giê-hô-va đã cậy miệng Giê-rê-mi mà phán ra, tức cho đến khi xứ được hưởng các năm sa-bát của nó; vì trọn lúc xứ bị bỏ hoang, thì dường như giữ sa-bát, cho đến khi mãn hạn bảy mươi năm.
21Israel prae mah anghoehaih hoi Sabbath ni to patoh hanah, Jeremiah mah thuih ih Angraeng ih lok baktih toengah, saning quisarihto akoep ai karoek to prae thungah kami angqai krangah ohhaih atue thungah ni Sabbath ni to zah o.
22Năm thứ nhất đời Si-ru, vua Phe-rơ-sơ trị vì, Đức Giê-hô-va muốn làm cho ứng nghiệm lời Ngài đã cậy miệng Giê-rê-mi mà phán ra, bèn cảm động lòng Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, rao truyền trong khắp nước mình, và cũng ra chiếu chỉ, mà rằng:
22Persia siangpahrang Cyrus angraenghaih saningto haih naah, Jeremiah mah thuih ih Angraeng ih lok to akoep hanah, Angraeng mah Persia siangpahrang Cyrus ih palungthin to pahruek pae; anih mah prae thung boih ah lok to taphong moe, hae tiah ca tarik,
23Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, nói như vầy: Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban cho ta các nước thế gian, và biểu ta xây cất cho Ngài một cái đền ở tại Giê-ru-sa-lem trong xứ Giu-đa. Trong các ngươi, phàm ai thuộc về dân sự Ngài, hãy trở lên Giê-ru-sa-lem; nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của người ấy ở cùng người!
23Persia siangpahrang Cyrus mah, Van ih Angraeng Sithaw mah long nui ih prae boih hae kai hanah paek boeh; Judah prae, Jerusalem ah, Anih han im sak pae hanah kai hae ang suek boeh. Anih loe angmah ih kami ah kaom nangcae khae boih ah oh, Judah prae ah caeh tahang han koeh kaminawk loe angmah ih Angraeng Sithaw mah om thui nasoe, tiah a naa.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.