II Sử 30
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Ê-xê-chia sai sứ đến cả Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, cũng viết thơ cho người Eùp-ra-im và người Ma-na-se, đòi chúng tới đền Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, đặng giữ lễ Vượt qua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
1Hezekiah mah Israel prae hoi Judah prae boih ah ca pat pae, Angraeng ih im ohhaih, Jerusalem vangpui ah sak ih misong loihaih poihkung ah, Israel Angraeng Sithaw ih ahmin pakoeh hanah angzo oh, tiah Ephraim hoi Manasseh khaeah doeh ca a paek.
2Vua và các quan trưởng cùng cả hội chúng ở Giê-ru-sa-lem hội nghị nhau, định dự lễ Vượt qua trong tháng hai;
2Khrah hnetto haih naah, misong loihhaih poih sak hanah, siangpahrang mah angmah ih angraengnawk hoi Jerusalem ah kaom rangpuinawk palung adue o.
3vì chúng không thể dự lễ trong lúc ấy, bởi số thầy tế lễ dọn mình thánh sạch không đủ, và dân sự chưa nhóm lại tại Giê-ru-sa-lem.
3Qaimanawk loe toksak han kamcuk ah ciimcai o ai, Judah kaminawk doeh Jerusalem ah amkhueng o ai pongah, angmah sakhaih atue thuem ah misong loihhaih poih to sah o thai ai.
4Vua và cả hội chúng đều lấy việc ấy làm phải;
4Siangpahrang hoi kaminawk loe sak han kaom to baktih hmuen nuiah poeknawm o ai.
5bèn nhất định rao truyền khắp xứ Y-sơ-ra-ên, từ Bê-e-Sê-ba cho đến Đan, khiến người ta đến dự lễ Vượt qua của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, tại Giê-ru-sa-lem; vì từ lâu nay chúng không có dự lễ ấy như đã chép trong luật lệ.
5Cabu thungah tarik ih baktih toengah, paroeai kasawk atue thungah misong loihhaih poih to sah o vai ai boeh pongah, kaminawk loe angzoh o moe, Jerusalaem ah Israel Angraeng Sithaw khaeah, misong loihhaih poih sak han ih ahmuen to, Israel prae thung boih, Beersheba hoi Dan prae karoek to taphong boih hanah a thuih o.
6Vậy, các trạm vâng mạng đem thơ của vua và của các quan trưởng đi khắp xứ Y-sơ-ra-ên và xứ Giu-đa, thơ rằng: Hỡi con cháu Y-sơ-ra-ên, hãy trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, của Y-sác và của Y-sơ-ra-ên, hầu cho Ngài trở lại cùng những kẻ còn sót lại trong các ngươi mà được thoát khỏi tay các vua A-si-ri.
6Siangpahrang angmah ih angraengnawk mah paek o ih ca to ca phawkungnawk mah lak o moe, lokpaek ih baktih toengah Israel prae hoi Judah prae boih ah thak o; capat thungah Israel kaminawk, Abraham, Isak hoi Israel acaengnawk ih Angraeng Sithaw khaeah amlaem o let ah; to tih nahaeloe Anih doeh Assyria siangpahrang ban thung hoiah kaloih, anghmat kami, nangcae khaeah, amlaem let tih.
7Chớ nên giống như tổ phụ và anh em các ngươi đã phạm tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, đến đỗi Ngài phó chúng vào sự hư bại, như các ngươi đã thấy.
7Nam panawk ih Angraeng Sithaw hmaa ah zaehaih kasah, nam panawk hoi nam nawkamyanawk baktiah om o hmah; na hnuk o ih baktih toengah, to tiah zaehaih kasah nihcae to Angraeng mah kanung parai ah danpaek boeh.
8Bây giờ, chớ cứng cổ như tổ phụ các ngươi hãy giơ tay mình ra cho Đức Giê-hô-va, vào trong nơi thánh mà Ngài đã biệt riêng ra thánh đời đời, và hầu việc Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, để cơn giận phừng của Ngài xây khỏi các ngươi.
8Nam panawk baktiah palungthah o sak hmah, nangmacae hoi nangmacae Angraeng khaeah anghnai oh, anih mah dungzan ah ciimcaisak ih, hmuenciim ah angzo oh; kanung parai nangcae khae palungphuihaih dipsak hanah, na Angraeng Sithaw ih tok to sah oh.
9Vì nếu các ngươi trở lại cùng Đức Giê-hô-va, thì anh em và con cái của các ngươi sẽ được ơn trước mặt những kẻ bắt họ làm phu tù, và họ sẽ được trở về trong xứ này; bởi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi có lòng nhân từ và hay thương xót, sẽ không xây mặt khỏi các ngươi, nếu các ngươi trở lại cùng Ngài.
9Angraeng khaeah nam laem o let nahaeloe, misong naeh kaminawk mah nam nawkamyanawk hoi na caanawk to tahmenhaih tawn o ueloe, hae prae ah nam laem o let tih; anih khaeah nam laem o let nahaeloe, nangcae ih Angraeng Sithaw loe amlunghaih hoi tahmenhaih hoiah koi pongah, nangcae han mikhmai hawk ving mak ai, tiah ca tarik pae.
10Các trạm đi thành này qua thành kia, trong khắp xứ Eùp-ra-im, Ma-na-xe, và cho đến đất Sa-nu-lôn; song người ta chê cười nhạo báng chúng
10Ca phawkungnawk loe Ephraim, Manasseh hoi Zebulun prae thung boih ah, vangpui maeto hoi maeto ah ca to thak o; toe kaminawk mah nihcae to kasae thuih o moe, pahnui o thuih.
11Dầu vậy, cũng có mấy người trong A-se, Ma-na-se, và Sa-bu-lôn chịu hạ mình xuống và đến Giê-ru-sa-lem.
11Toe Asher, Manasseh hoi Zebulun ih kaminawk loe poek pahnaem o moe, Jerusalem ah caeh o.
12Đức Chúa Trời cũng cảm động người Giu-đa, đồng lòng vâng mạng lịnh của vua và các quan trưởng đã truyền ra, theo lời của Đức Giê-hô-va.
12Judah prae thung ih kaminawk loe Angraeng ih lok baktih toengah, Angraeng ban thacakhaih nihcae nuiah oh pongah, siangpahrang hoi angraengnawk mah sak atim ih hmuen to poekhaih maeto hoiah sak koehhaih palungthin to a tawnh o.
13Tháng hai, có nhiều người nhóm lại tại Giê-ru-sa-lem, một hội rất đông đảo, đặng giữ lễ bánh không men.
13Khrah hnetto haih naah loe, taeh thuh ai ih takaw caakhaih poih sak hanah, paroeai kaminawk loe Jerusalem ah amkhueng o moe, kalen parai poih to a sak o.
14Chúng chổi dậy, cất hết các bàn thờ ở trong Giê-ru-sa-lem, và những bình đốt hương, rồi đem liệng nó trong khe Xết-rôn.
14Nihcae loe angthawk o moe, Jerusalem vangpui ih acaeng kalah kaminawk mah sak o ih hmaicamnawk hoi hmuihoih thlaekhaih hmaicamnawk to lak o pacoengah, Kidron vacong thungah vah o king.
15Ngày mười bốn tháng hai, người ta giết con sinh về lễ Vượt qua; còn những thầy tế lễ và người Lê-vi, thì lấy làm hổ thẹn, bèn dọn mình thanh sạch, và đem những của lễ thiêu vào trong đền Đức Giê-hô-va.
15Khrah hnetto haih ni hatlai palito naah, misong loihhaih poih sakhaih moi to boh o; qaima hoi Levi acaengnawk loe azathaih tongh o pongah, angmacae hoi angmacae to ciimcai ah oh o moe, Angraeng ih im ah hmai angbawnhaih hmuen to sinh o.
16Chúng đều đứng trong chỗ mình, theo thường lệ đã định trong luật pháp của Môi-se, người của Đức Chúa Trời; và những thầy tế lễ nhận lấy huyết nơi tay người Lê-vi mà rảy ra.
16Sithaw kami Mosi mah paek ih kaalok baktih toengah, angmacae angdoethaih ahmuen ah angdoet o moe, Levi acaengnawk mah paek ih moithii to qaimanawk mah hmaicam ah haeh o.
17Trong hội chúng còn nhiều người chưa dọn mình thanh sạch; vì vậy người Lê-vi phải giết dâng con sinh về lễ Vượt qua thế cho mỗi người không thanh sạch, để làm họ nên thanh sạch cho Đức Giê-hô-va.
17To ah amkhueng kaminawk thungah thoemto kaminawk loe ciimcai o ai pongah, ciimcai ai kaminawk boih Angraeng han ciimcai hanah, Levi acaengnawk mah misong loihhaih poihkung ah tuucaa to boh pae o.
18Vì trong dân sự, nhất là trong dân Eùp-ra-im, Ma-na-se, Y-sa-ca, và Sa-bu-lôn có nhiều người không dọn mình thanh sạch, lại ăn lễ Vượt qua, chẳng theo lệ đã chép; vì Ê-xê-chia có cầu nguyện cho chúng, mà rằng:
18Ephraim, Manasseh, Issakar, Zebulun prae thung hoiah angzo kaminawk loe angmacae hoi angmacae ciimcai ah om o ai; cabu thungah tarik ih lok to pazui ai ah, moi to a caak o. Hezekiah mah, Kahoih Angraeng mah tahmen nasoe,
19Nguyện Đức Giê-hô-va là Đấng nhân từ, tha tội cho những người đã hết lòng tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, mặc dầu không theo lệ tẩy uế của đền thánh mà dọn mình cho thanh sạch.
19hmuenciim ciimcaihaih daan baktiah, anih loe ciimcai ai cadoeh, ampanawk ih Angraeng Sithaw pakrong koeh kami ih zaehaih to tahmen nasoe, tiah lawkthuih pae.
20Đức Giê-hô-va dủ nghe lời cầu nguyện của Ê-xê-chia và chữa lành cho dân sự.
20Hezekiah lawkthuihaih to Angraeng mah tahngaih pae moe, kaminawk to ngantuisak.
21Những người Y-sơ-ra-ên ở tại Giê-ru-sa-lem giữ lễ bánh không men trong bảy ngày cách vui vẻ; người Lê-vi và những thầy tế lễ ngày này sang ngày kia, dùng nhạc khí hát mừng ngợi khen Đức Giê-hô-va.
21Jerusalem ah kaom Israel caanawk loe taeh thuh ai ih takaw caakhaih poih to ni sarihto thung anghoehaih hoiah sak o; Levi acaengnawk hoi qaimanawk loe ni thokkruek atuenpawknawk hoiah Angraeng khaeah Angmah saphawhaih laa to sak o.
22Ê-xê-chia nói an ủi lòng những người Lê-vi thông sáng hiểu biết cuộc thờ phượng Đức Giê-hô-va. Chúng ăn lễ trong bảy ngày, dâng những của lễ thù ân, và cảm tạ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.
22Angraeng ih lok patukkung Levi acaengnawk boih khaeah, Hezekiah mah thapaekhaih lok to thuih pae; ni sarihto thung poihsak o moe, a caak o; angdaehhaih hmuen to tathlangh o moe, angmacae ampanawk ih Angraeng Sithaw hmaa ah zaehaih to taphong o.
23Cả hội chúng bèn quyết định giữ lễ thêm bảy ngày; rồi chúng vui vẻ giữ thêm bảy ngày nữa.
23Poihkung ah angzo kaminawk mah ni sarihto thung poihsak patomh han thuih o pongah, anghoehaih hoiah ni sarihto thung poih to sak patomh o let.
24Vì Ê-xê-chia, vua Giu-đa, đã ban cho hội chúng một ngàn con bò đực và bảy ngàn con chiên; các quan trưởng cũng ban cho hội chúng một ngàn con bò đực và mười ngàn con chiên lại có nhiều thầy tế lễ dọn mình ra thanh sạch.
24Judah siangpahrang Hezekiah mah rangpui hanah maitaw tae sangto, tuucaa sang sarihto paek; angraengnawk mah doeh maitaw tae sangto hoi tuucaa sang hato paek o toeng; paroeai pop qaimanawk doeh angmacae hoi angmacae to ciimcai ah oh o.
25Cả hội chúng Giu-đa với những thầy tế lễ, người Lê-vi, và hội chúng đến từ Y-sơ-ra-ên, cùng những người ngoại bang, kẻ thì kiều ngụ trong xứ Y-sơ-ra-ên, người thì kiều ngụ trong xứ Giu-đa, thảy đều vui mừng.
25Qaima hoi Levi acaengnawk, Judah prae thung hoiah angzo kaminawk boih, Israel prae thung hoiah angzo kaminawk boih, Israel prae thung hoiah angzo angvinnawk boih hoi Judah prae ah kaom kaminawk boih loe anghoehaih hoiah oh o.
26Aáy vậy, ở Giê-ru-sa-lem có sự vui mừng cả thể; vì từ đời Sa-lô-môn, con trai Đa-vít, vua Y-sơ-ra-ên, tại thành Giê-ru-sa-lem chẳng có sự gì như vậy.
26To tiah Jerusalem vangpui ah kalen parai anghoehaih to oh; Israel siangpahrang David capa Solomon dung pacoeng hoi to tiah kalen parai anghoehaih to Jerusalem ah om ai boeh.
27Đoạn, những thầy tế lễ và người Lê-vi đứng dậy chúc phước cho dân sự; tiếng của chúng được nhậm, lời cầu nguyện chúng thấu đến nơi ngự thánh của Đức Giê-hô-va trên các từng trời.
27Qaima hoi Levi acaengnawk loe angdoet o moe, kaminawk han tahamhoihaih paek o; nihcae lawkthuihaih lok loe, a ohhaih hmuenciim, van khoek to phak, nihcae lawkthuihaih lok to Angraeng mah tahngaih pae.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.