II Sử 15
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Thần Đức Chúa Trời cảm động A-xa-ria, con trai của Ô-đết: người đi ra đón A-sa, mà nói với người rằng:
1Angraeng ih Muithla loe Oded capa Azariah nuiah angzoh;
2Hỡi A-sa, cả Giu-đa, và Bên-gia-min, hãy nghe lời ta: Các ngươi theo Đức Giê-hô-va chừng nào, thì Đức Giê-hô-va ở với các ngươi chừng nấy; nếu các ngươi tìm Ngài, ắt sẽ gặp Ngài được; nếu các ngươi lìa bỏ Ngài, thì Ngài sẽ lìa bỏ các ngươi.
2Azariah loe Asa siangpahrang tongh hanah caeh, anih khaeah, Asa siangpahrang, Judahnawk hoi Benjamin kaminawk boih, ka lok hae tahngai oh; Angraeng khaeah na oh o nahaeloe, Angraeng doeh nangcae khaeah om tih; anih to na pakrong o nahaeloe, na hnu o tih; toe anih to na pahnawt o nahaeloe, anih mah doeh na pahnawt o toeng tih.
3Đã lâu ngày, Y-sơ-ra-ên không có Chúa thật, không có thầy tế lễ dạy dỗ, cũng chẳng có luật pháp;
3Atue paroeai thung Israel kaminawk loe Sithaw tangtang tawn o ai, patukkung qaima tawn o ai moe, daan doeh tawn ai ah khosak o.
4song trong lúc khốn khó, chúng trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, mà tìm cầu Ngài, thì lại gặp Ngài đặng.
4Toe patangkhang o naah loe, Israel Angraeng Sithaw khaeah amlaem o let; anih to pakrong o naah nihcae mah hnuk o.
5Trong thì ấy, dân của xứ phải bị sự rối loạn nhiều, kẻ ra kẻ vào không được bằng yên.
5To nathuem ah kholong caeh kaminawk hanah, monghaih roe om ai; prae thung boih ah poek anghmanghaih to oh.
6Nước nầy giày đạp nước kia, thành này giày đạp thành nọ; vì Đức Chúa Trời lấy đủ thứ khổ nạn làm cho chúng rối loạn.
6Sithaw mah congca patangkhanghaih hoi raihaih to paek pongah, prae maeto hoi maeto, vangpui maeto hoi maeto misa angthawk o.
7Song các ngươi hãy mạnh lòng, tay các ngươi chớ nhát sợ, vì việc các ngươi làm sẽ được phần thưởng.
7Toe nangcae mah tha pathok oh, bantha zok o sak hmah; na sak o ih tok baktih toengah tangqum na hnu o tih, tiah a naa.
8Khi A-sa đã nghe các lời này và lời tiên tri của tiên tri Ô-đết, thì giục lòng mạnh mẽ, bèn trừ bỏ những thần tượng gớm ghiếc khỏi cả đất Giu-đa và Bên-gia-min, cùng khỏi các thành người đã đoạt lấy trên miền núi Eùp-ra-im; người tu bổ lại cái bàn thờ của Đức Giê-hô-va ở trước hiên cửa Đức Giê-hô-va.
8Asa mah hae loknawk hoi tahmaa Oded mah thuih ih lok to thaih naah, tha ohsak moe, Judah prae, Benjamin prae hoi Ephraim mae nuiah lak ih vangpuinawk thung boih hoiah, panuet thok krangnawk to vah king; anih mah Angraeng im hmaa ah kaom, Angraeng ih hmaicam to pathoep let.
9Người nhóm hiệp hết thảy người Giu-đa, người Bên-gia-min, và kẻ khách thuộc về chi phái Eùp-ra-im, Ma-na-se, và Si-mê-ôn, vẫn kiều ngụ với chúng; vì có nhiều người Y-sơ-ra-ên khi thấy rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của A-sa ở cùng người, thì đều về đằng người.
9To pacoengah Judah kaminawk, Benjamin kaminawk, Ephraim kaminawk, Manaseh kaminawk hoi Simeon kaminawk to nawnto amkhuengsak boih; Asa khaeah Angraeng Sithaw oh, tiah Israel kaminawk boih mah panoek o naah, anih khaeah angzoh o.
10Tháng ba năm mười lăm đời A-sa, chúng nhóm hiệp tại Giê-ru-sa-lem;
10Asa siangpahrang ah ohhaih saning hatlaipangato haih, khrah thumto naah, Jerusalem vangpui ah amkhueng o.
11nhằm ngày ấy họ lấy trong các súc vật mình đã đoạt được dẫn về bảy trăm con bò đực và bảy ngàn con chiên mà tế lễ Đức Giê-hô-va.
11Misa khae hoi lak o ih maitaw cumvai sarihto hoi tuu sang sarihto Angraeng khaeah angbawnhaih ah paek o.
12Chúng toan ước nhau hết lòng hết ý tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình,
12Angmacae poekhaih palungthin boih hoiah ampanawk ih Angraeng Sithaw to pakrong hanah lokmaihaih thungah akun o;
13và hễ ai không tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, thì sẽ bị xử tử vô luận nhỏ hay lớn, nam hay nữ.
13mi kawbaktih doeh Israel Angraeng Sithaw pakrong ai kami loe, kathoeng kalen tih ai, nongpa nongpata tih ai, paduek han oh tiah,
14Chúng cất tiếng lớn mà thề cùng Đức Giê-hô-va, reo mừng, thổi kèn, thổi còi.
14Angraeng khaeah tha hoi hanghaih, mongkah ueng moe, tuu taki bohhaih hoiah lokkamhaih a sak o.
15Cả Giu-đa đều vui mừng về lời thề ấy, vì chúng hết lòng mà phát thề, và hết ý tìm cầu Đức Giê-hô-va; rồi chúng tìm gặp Ngài đặng. Đức Giê-hô-va bèn ban cho chúng được bình an bốn phía.
15Nihcae loe palungthin boih hoi lokkam o pongah, Judah kaminawk boih anghoe o; koehhaih palungthin hoiah Angraeng to pakrong o pongah, Anih to hnuk o; Angraeng mah nihcae hanah ahmuen kruek hoi monghaih to paek.
16Vả lại, vì Ma-a-ca, mẹ vua A-sa, đã làm một hình tượng gớm ghê cho thần A-sê-ra, nên vua A-sa lột chức thái hậu của bà, đánh đổ hình tượng ấy và nghiền nát đi, rồi thiêu đốt trong trũng Xết-rôn.
16Siangpahrang Asa ih amsae nongpata Makaah mah Asherah thingkung tlim ah panuet thok krang to sak pongah, siangpahrang nongpata ah angdoethaih ahmuen hoiah takhoe ving; Asa mah krang to pakhoih pae boih, khok hoiah atit pae moe, Kidron ah hmai hoiah a thlaek.
17Song các nơi cao không phá dỡ khỏi Y-sơ-ra-ên; dầu vậy, lòng A-sa vẫn trọn lành cả đời người.
17Toe Israel prae thung hoiah hmuensangnawk to takhoe boih ai, toe Asa loe a hing thung Angraeng khaeah poekhaih to paek.
18Người đem vào đền của Đức Giê-hô-va các vật thánh của cha người, và những vật mà chính mình người đã biệt riêng ra thánh, hoặc vàng, hoặc bạc, hay là những khí dụng.
18Angmah hoi ampa mah paek ih sui, sumkanglung hoi laom sabaenawk to Angraeng im thungah a sin boih.
19Chẳng có giặc giã cho đến năm thứ ba mươi lăm đời A-sa.
19Asa singpahrang ah ohhaih saning quithum, pangato thung prae thungah misa angtukhaih om ai.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.