II Sử
Chapter 25
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1A-ma-xia được hai mươi lăm tuổi khi người lên ngôi làm vua; người cai trị hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem; mẹ người tên là Giô-a-đan, quê ở Giê-ru-sa-lem.
1Amaziah siangpahrang ah oh naah, saning pumphae pangato oh boeh; anih mah Jerusalem to saning pumphae takawtto thung uk; anih ih amno loe Jerusalem kami Jehoaddan.
2Người làm điều thiện tại trước mặt Đức Giê-hô-va, song lòng không được trọn lành.
2Anih loe Angraeng mikhnukah katoeng hmuen to sak; toe palungthin boih hoiah sah ai.
3Xảy khi nước người được vững chắc, thì người xử tử những đầy tớ đã giết cha mình.
3A ban thungah prae to caksak pacoengah, ampa kahum a tamnanawk to anih mah hum pathok let.
4Nhưng người không xử tử các con trai chúng, theo điều đã chép trong sách luật pháp của Môi-se, như Đức Giê-hô-va đã phán dặn rằng: Cha sẽ chẳng phải chết vì con, con cũng sẽ chẳng phải chết vì cha; song mỗi người sẽ chết vì tội mình.
4Toe nihcae ih capanawk loe hum pae ai; a caanawk pongah ampanawk duek han om ai, ampanawk pongah doeh a caanawk duek han om ai; kami boih angmah zaehaih pongah ni duek han oh, tiah Angraeng mah thuih ih lok hoi Mosi lokpaekhaih thungah tarik ih lok baktih toengah a sak.
5A-ma-xia nhóm những người Giu-đa, cứ theo họ hàng của tổ phụ Giu-đa và Bên-gia-min, mà lập những quan tướng cai ngàn người và cai trăm người; lại tu bộ những người từ hai mươi tuổi sấp lên, số cộng được ba mươi vạn người kén chọn ra trận được cùng có tài cầm giáo và khiên.
5Amaziah mah Judah kaminawk boih to kawk moe, Judah hoi Benjamin acaengnawk khaeah, acaeng maeto thungah, kami sangto ukkung, cumvaito ukkung, tiah a suek; tayae hoi aphaw sin thaih, saning pumphaeto ranui bang kaom kaminawk boih to a kok naah, kami sang cumvai thumto a hnuk.
6Người cũng mộ mười vạn người mạnh dạn trong Y-sơ-ra-ên, giá một trăm ta lâng bạc.
6Anih mah sumkanglung talent cumvaito hoiah Israel misatuh kami sang cumvaito thlai bae vop.
7Nhưng có người của Đức Chúa Trời đến nói với người rằng: Hỡi vua! đạo binh Y-sơ-ra-ên chớ kéo đi với vua; vì Đức Giê-hô-va chẳng ở cùng Y-sơ-ra-ên, chẳng ở cùng các con cháu Eùp-ra-im.
7Toe Sithaw ih kami maeto anih khaeah angzoh moe, Aw siangpahrang, Israel misatuh kaminawk loe misatuk hanah nang hoi nawnto caeh o mak ai; Angraeng loe Israelnawk khaeah om ai; Ephraim kaminawk khaeah doeh om ai.
8Còn nếu vua muốn đi, thì hãy đi đi khá làm cho mình mạnh mẽ mà chinh chiến đi; Đức Chúa Trời sẽ khiến vua ngã trước mặt quân thù; vì Đức Chúa Trời có quyền giúp cho thắng và cũng có quyền làm cho sa bại.
8Toe na caeh koeh nahaeloe, caeh ah; misatuk hanah tha na cak aep to mah, Angraeng mah nang to misanawk hmaa ah amtimsak tih. Sithaw loe abom thaihaih hoi amtimsak thaihaih to tawnh.
9A-ma-xia nói với người Đức Chúa Trời rằng: Còn về một trăm ta lâng bạc kia, mà ta đã phát cho đạo binh Y-sơ-ra-ên, thì phải làm sao? Người của Đức Chúa Trời đáp: Đức Giê-hô-va có thể ban cho vua nhiều hơn số ấy.
9Amaziah mah Sithaw kami khaeah lokdueng, to tiah nahaeloe Israel misatuh kaminawk thlaihaih atho ka paek ih sumkanglung talent cumvaito loe kawbangmaw ka sak han loe? tiah a naa. Sithaw kami mah, Angraeng loe hae pong kapop hmuen nang hanah ang paek thaih, tiah a naa.
10Vậy, A-ma-xia phân rẽ đạo binh đã từ Eùp-ra-im đến cùng người, cho chúng trở về nhà; tại cớ ấy, chúng giận Giu-đa lắm, và trở về nhà lấy làm nóng giận phừng.
10To pacoengah Amaziah mah Ephraim prae hoiah angzo misatuh kaminawk to tapraek moe, angmacae im ah amlaemsak let; to pongah nihcae loe Judah nuiah paroeai plungphui o, palungphui hoiah im ah amlaem o.
11A-ma-xia làm dạn dĩ, kéo dân sự mình đến trũng Muối, đánh một vạn người của dân Sê-i-rơ.
11Amaziah loe angmah hoi angmah to thacaksak moe, angmah ih kaminawk to paloi azawn ah a caeh haih; to ahmuen ah Seir kami sang hato a hum.
12Dân Giu-đa bắt sống một vạn người đem chúng nó lên trên chót hòn đá, rồi từ trên chót hòn đá xô chúng nó xuống, thảy đều bị giập chết hết.
12Kalah kami sang hato loe Judah misatuh kaminawk mah kahing ah naeh o; nihcae to thlung amngoe thungah vah o, nihcae ih takpum loe angkhaeh boih.
13Còn đạo binh mà A-ma-xia khiến trở về, không cho đi ra trận với mình, thì xông vào các thành Giu-đa, từ Sa-ma-ri cho đến Bết-Hô-rôn, đánh giết ba ngàn người tại đó, và cướp lấy nhiều của cải.
13Toe Amaziah hoi nawnto misatukhaih ahmuen ah kacaeh ai, anih mah amlaemsak let ih misatuh kaminawk loe, Samaria hoi Beth-Horon khoek to Judah vangpuinawk to tuk o moe, kami sang thumto hum o pacoengah, kapop parai hmuenmaenawk to a lomh pae o.
14Khi A-ma-xia đánh được dân Ê-đôm trở về, thì đem các thần của dân Sê-i-rơ về, lập lên làm thần của mình, quì lạy trước mặt chúng nó, và đốt hương cho.
14Edom kaminawk humhaih hoi amlaem let pacoengah, Amaziah mah, Seir kaminawk ih sithawnawk to sinh moe, angmah ih sithaw ah a suek; a hmaa ah akuep moe, bok pacoengah, hmuihoihnawk to a thlaek.
15Vì vậy, cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng A-ma-xia, Ngài sai một đấng tiên tri đến nói với người rằng: Cớ sao ngươi đi cầu các thần không giải cứu được dân tộc thờ lạy chúng nó khỏi tay ngươi?
15To naah Angraeng palungphuihaih to Amaziah nuiah phak; anih khaeah tahmaa maeto patoeh, anih mah, Angmah ih kaminawk mataeng doeh misa ban thung hoiah na pahlong thai ai to mah, tikhoe prae kalah kaminawk ih sithaw to na pakrong loe? tiah a naa.
16Xảy khi đấng tiên tri tâu với vua, thì vua bảo người rằng: Ta há lập ngươi làm mưu sĩ cho vua sao? Hãy thôi đi, kẻo ta đánh ngươi chăng Đấng tiên tri bèn thôi, và nói rằng: Tôi biết rằng Đức Giê-hô-va đã quyết định hủy diệt vua, bởi vì vua đã làm điều ấy, và không nghe lời tôi.
16Anih khaeah lokthuih li naah, siangpahrang mah anih hanah, Nang loe siangpahrang poekhaih paekkung ah maw na oh? Om duem ah! Tikhoe danpaekhaih na koeh loe? tiah a naa. To pongah tahmaa loe oh duem, ka thuih ih lok na tahngai ai moe, hae baktih hmuen na sak pongah, Sithaw mah nang paro hanah khokhan boeh, tiah ka panoek, tiah a naa.
17A-ma-xia, vua Giu-đa, mưu nghị rồi, thì sai đến Giô-ách, con trai Giô-a-cha, cháu Giê-hu, vua Y-sơ-ra-ên, mà nói rằng: Hãy đến, để chúng ta thấy nhau.
17Amaziah mah angmah han poekhaih paek kaminawk lokdueng pacoengah, Israel siangpahrang Jehu capa Jehoahaz, anih ih capa Joash khaeah, Angzo ah, mikhmai kangtong ah angqum hoi si, tiah kami patoeh moe, lok a pat.
18Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, sai sứ đến A-ma-xia, vua Giu-đa, mà nói rằng: Cây gai ở Li-ban có sai đến nói với cây bá hương ở Li-ban rằng: Hãy gả con gái ngươi cho con trai ta làm vợ. Song có một con thú đồng ở Li-ban đi ngang qua, giày đạp cây gai đi.
18Toe Israel siangpahrang Joash mah Judah siangpahrang Amaziah khaeah, Lebanon ih soekhringkung mah Lebanon ih hmaica thing khaeah, Na canu to ka capa han zu ah paek ah, tiah a naa; to naah Lebanon ih hmawsaeng moi maeto angzoh moe, soekhringkung to khok hoiah cawh.
19Ngươi nói: Nầy ta đã đánh Ê-đôm! Lòng ngươi lại tự cao tự khoe. Bây giờ, khá ở trong nhà ngươi, cớ sao làm cho mình mắc họa, và khiến cho ngươi và Giu-đa phải sa ngã?
19Nang loe khenah, Edom to ka pazawk boeh, tiah poekhaih na tawnh, na poekhaih palungthin to amoek; nangmah im ah om duem ah! Tipongah nam timh moe, nangmah hoi Judah kaminawk nawnto amro hanah na pakrong loe? tiah a naa.
20A-ma-xia không nghe lời, vì điều đó do ý Đức Chúa Trời, để phó chúng vào tay kẻ thù nghịch, bởi vì chúng có tìm kiếm các thần của Ê-đôm.
20Toe Amaziah mah tahngai pae ai; nihcae loe Edom sithawnawk khaeah lokdueng o pongah, a misanawk ban ah paek hanah, Sithaw mah to tiah ohsak.
21Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, kéo lên; người và A-ma-xia, vua Giu-đa, bèn thấy nhau tại Bết-Sê-mết trong xứ Giu-đa.
21Topongah Israel siangpahrang Joash loe anih tuk hanah caeh; siangpahrang hnik loe Judah prae Beth-Shemesh ah angtongh hoi.
22Quân Giu-đa bị quân Y-sơ-ra-ên đánh đuổi, bèn chạy trốn, ai về trại nấy.
22Israelnawk mah Judahanwk to pazawk, to naah Judah kaminawk loe angmacae im ah cawnh o boih.
23Tại Bết-Sê-mết, Giô-ách vua Y-sơ-ra-ên, bắt A-ma-xia, vua Giu-đa, con trai Giô-ách, cháu Giô-a-cha, điệu người về Giê-ru-sa-lem; đoạn người phá vách thành từ cửa Eùp-ra-im cho đến cửa Góc, một khúc dài bốn trăm thước.
23Israel siangpahrang Joash mah, Jehoahaz capa Joash, anih ih capa Judah siangpahrang, Amaziah to Beth-Shemesh ah naeh moe, Jerusalem ah hoih; Jerusalem sipae to Ephraim khongkha hoi kamtong im takii khongkha khoek to phraek pae king; to ahmuen loe dong cumvai palito oh.
24Người lấy hết vàng, bạc, và những khí dụng ở trong đền của Đức Chúa Trời, có Ô-bết-Ê-đôm coi giữ, cùng các bửu vật của cung vua; người cũng bắt kẻ cầm làm tin, rồi trở về Sa-ma-ri.
24Obed-Edom ih adung hoiah pakuem ih sui hoi phoisanawk, Sithaw ih im thungah kaom laom sabaebawk boih, siangpahrang imthung ih hmuennawk pacoengah, kaminawk doeh naeh moe, Samaria ah amlaem o.
25A-ma-xia, con trai Giô-ách, vua Giu-đa còn sống mười lăm năm nữa, sau khi Giô-ách, con trai Giô-a-cha, vua Y-sơ-ra-ên, đã băng hà.
25Judah siangpahrang Joash capa Amaziah loe, Israel siangpahrang Jehoahaz capa Joash duek pacoengah, saning hatlaipangato hing vop.
26Các công việc khác của A-ma-xia từ đầu đến cuối, đều đã chép trong sách các vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.
26Amtonghaih hoi boeng khoek to Amaziah ih toksakhaih kawngnawk loe Judah hoi Israel siangpahrangnawk ih cabu thungah tarik o na ai maw?
27Vả từ khi A-ma-xia xây bỏ Đức Giê-hô-va về sau, thì có người phản nghịch cùng người tại Giê-ru-sa-lem, người bèn chạy trốn đến La-ki; song người ta sai đuổi theo người đến La-ki, và giết người tại đó.
27Amaziah loe Angraeng hnuk pazuihaih thung hoiah amkhraeng ving pacoengah, anih to Jerusalem ah hum hanah pacaeng o, toe anih loe Lakhish ah cawnh ving; Lakhish ah kami patoeh o moe, to ah anih to hum o.
28Đoạn người ta có chở thây người về trên ngựa, chôn người tại trong thành Giu-đa chung cùng các tổ phụ người.
28Anih to hrang hoiah phawh o moe, Judah vangpui ah ampanawk khaeah aphum o.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.