II Sử
Chapter 34
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Giô-si-a được tám tuổi khi người lên ngôi làm vua, và cai trị ba mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem.
1Josiah siangpahrang ah oh naah saning tazetto ni oh vop; anih mah Jesuralem to saning quithum, hnetto thung uk.
2Người làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va, và đi theo con đường của Đa-vít, tổ phụ người, không xây về bên hữu hay là bên tả.
2Anih loe Angraeng mikhnukah katoeng hmuen to sak moe, ampa David ih loklam to pazui, anih loe banqoi bang maw bantang bangah maw amtimh ai.
3Năm thứ tám đời người trị vì, khi người hãy còn trẻ tuổi, thì người khởi tìm kiếm Đức Chúa Trời của Đa-vít, tổ phụ người; năm thứ mười hai, người khởi dọn sạch Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, trừ bỏ những nơi cao, thần A-sê-ra, tượng chạm và tượng đúc.
3Siangpahrang ah saning tazetto oh pacoengah doeh, anih loe nawkta ah ni oh vop, toe anih loe ampa David ih Sithaw to pakrong; saning hatlai hnetto phak naah, Judah prae hoi Jerusalem ih hmuensangnawk, Asherah thingnawk, thing nuiah thuk ih krangnawk hoi ban hoiah sak ih krangnawk to a phraek boih.
4Trước mặt vua, người ta phá dỡ các bàn thờ Ba-anh, đánh đổ những trụ thờ mặt trời ở trên cao bàn thờ ấy; còn thần A-sê-ra, tượng chạm và tượng đúc, thì bẻ gãy, nghiền nát nó ra, rồi rải trên mồ mả của những kẻ đã cúng tế nó.
4Anih hmaa ah kaom Baal bokhaih hmaicamnawk to a boh phaeng; to hmaicam nuiah kaom krangnawk doeh boh phaeng moe, Asherah thingnawk, thing nuiah thuk ih krangnawk hoi kalah krangnawk to vah pae king; kadip pueng ah boh pae phaeng moe, angbawnhaih sah kaminawk ih taprong nuiah a haeh pae.
5Người cũng thiêu hài cốt của những thầy tế lễ tại trên bàn thờ các thần ấy, và dọn sạch Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
5Krang bok qaimanawk ih ahuhnawk to angmacae ih hmaicam nuiah hmai hoiah a thlaek; to tiah Judah hoi Jerusalem to a ciimsak.
6Trong các thành của Ma-na-se, của Eùp-ra-im, và của Si-mê-ôn, cho đến Nép-ta-li khắp chung quanh các nơi đổ nát,
6Anih mah Manasseh, Ephraim, Simeon hoi Naphtali karoek to, vangpui taeng ih ahmuennawk boih to taoi hoiah takaeh o.
7người phá dỡ các bàn thờ và nghiền nát ra bụi những thần A-sê-ra, tượng chạm và tượng đúc, đánh đổ các trụ thờ mặt trời ở trong khắp xứ Y-sơ-ra-ên; rồi người trở về Giê-ru-sa-lem.
7Hmaicamnawk hoi Asherah thingnawk to a phraek moe, krangnawk to kadip pueng ah a boh, Israel prae thung boih ah hmuihoih thlaekhaih, sakcop ih krangnawk to takroek pae pet pet pacoengah, Jerusalem ah amlaem.
8Năm thứ mười tám đời người trị vì, sau khi đã dọn sạch xứ và đền thờ rồi, thì người sai Sa-phan, con trai A-sa-lia, Ma-a-xê-gia, quan cai thành, và Giô-a, con trai Giô-a-cha, quan thái sử, đặng sửa sang đền của Giê-hô-va Đức Chúa Trời người.
8Josiah siangpahrang ah ohhaih saning hatlai tazetto naah, a prae hoi im to ciimsak pacoengah, angmah Angraeng Sithaw ih im to pakhraih hanah, Azaliah capa Shaphan hoi vangpui ukkung Maaseiah, hmuenmaenawk ih ahmin tarikkung Joahaz capa Joah to patoeh.
9Các người ấy đi đến cùng Hinh-kia, thầy tế lễ thượng phẩm, giao cho người tiền bạc đã đem vào đền Đức Chúa Trời, tức tiền bạc mà người Lê-vi, kẻ giữ cửa, đã nhận nơi tay người Ma-na-se, người Eùp-ra-im, và nơi những kẻ còn sót lại trong Y-sơ-ra-ên, cùng nhận nơi cả Giu-đa, Bên-gia-min và những dân cư thành Giê-ru-sa-lem.
9Nihcae loe qaima Hilkiah khaeah caeh o moe, kaminawk mah Sithaw im ah sinh o ih phoisa, khongkha toepkung Levi acaengnawk mah, Manasseh, Ephraim hoi kanghmat Israel kaminawk boih, Judah kaminawk, Benjamin kaminawk hoi Jerusalem kaminawk khaeah kok ih phoisa to paek o.
10Chúng giao bạc ấy nơi tay những người coi sóc công việc của đền Đức Giê-hô-va; họ phát cho các thợ đặng tu bổ, sửa sang đền thờ:
10Angraeng imthung ih toksah kaminawk khaeah a paek o moe, nihcae mah Angraeng ih im pakhraih kami hoi im pathoep kaminawk hanah paek o.
11tức giao cho thợ mộc, thợ xây đặng mua đá đẽo, cây gỗ để ráp nối, và làm sườn cho các nhà thuộc về đền mà các vua Giu-đa đã phá hủy.
11Judah siangpahrangnawk mah paro ih im sak haih, im pathoep haih han kangaih thingnawk, thlungnawk to qan hanah, imsahkung hoi thing aatkungnawk khaeah a paek o.
12Các thợ ấy đều làm công việc cách thành tâm. Kẻ quản đốc các thợ ấy là Gia-hát và Ô-ba-đia, hai người Lê-vi thuộc về dòng Mê-ra-ri; Xa-cha-ri và Mê-su-lam về dòng Kê-hát, cùng mấy người Lê-vi khác, đánh nhạc khí giỏi.
12Kaminawk loe oep om ah toksak o; nihcae ukkung ah Merari acaeng, Levi kami Jahath hoi Obadiah; Kohath acaeng Zekariah hoi Meshullam cae to oh o; tamoi uengh kop kalah Levi acaengnawk mah doeh toksah kaminawk to khetzawn o.
13Chúng cũng quản đốc kẻ khiêng gánh, và coi sóc những người làm đủ mọi thứ công việc; còn những ký lục, quan cai và kẻ canh cửa đều là người Lê-vi.
13Nihcae loe imthung ah toksah kaminawk hoi congca toksah kaminawk boih a khetzawn o; thoemto Levi acaengnawk loe athung ah toksah angraeng, ca tarikkung hoi khongkha toepkung ah oh o.
14Khi người ta đem bạc đã đem vào đền Đức Giê-hô-va ra, thì Hinh-kia, thầy tế lễ, tìm được cuốn sách luật pháp của Đức Giê-hô-va truyền lại bởi Môi-se.
14Angraeng im thungah sinh o ih phoisa to lak o naah, Mosi khaeah paek ih Angraeng ih kaalok cabu to qaima Hilkiah mah hnuk.
15Hinh-kia cất tiếng lên nói với thơ ký Sa-phan rằng: Ta có tìm được cuốn sách luật pháp ở trong đền của Đức Giê-hô-va. Rồi Hinh-kia giao sách ấy cho Sa-phan.
15Hilkiah mah ca tarikkung Shaphan khaeah, Angraeng ih im thungah kaalok cabu ka hnuk boeh, tiah a naa. Hilkiah mah Shaphan khaeah paek.
16Sa-phan đem sách đó cho vua; rồi người cũng tâu với vua rằng: Mọi việc giao nơi tay các tôi tớ vua thì họ đang làm.
16Shaphan mah cabu to siangpahrang khaeah sinh moe, anih khaeah, Sak han na paek ih hmuennawk to na tamnanawk mah sak o boih boeh.
17Chúng đã lấy bạc tìm được trong đền Đức Giê-hô-va ra, và đã giao nơi tay các đốc công và những người làm công việc.
17Angraeng im ah a hnuk o ih phoisa to nawnto a suek o moe, ukkungnawk hoi toksahkungnawk khaeah pakuem o sak boeh, tiah a naa.
18Thơ ký Sa-phan lại tâu với vua rằng: Thầy tế lễ Hinh-kia có trao cho tôi một cuốn sách. Sa-phan bèn đọc tại trước mặt vua.
18To pacoengah ca tarikkung Shaphan mah siangpahrang khaeah, Qaima Hilkiah mah cabu maeto ang paek, tiah a naa. Siangpahrang hmaa ah to cabu to kroek pae.
19Xảy khi vua nghe các lời luật pháp rồi, thì xé áo mình.
19Siangpahrang mah kaalok cabu thung ih lok to thaih naah, angmah ih kahni to asih.
20Vua truyền lịnh cho Hinh-kia, A-hi-cam, con trai của Sa-phan, Aùp-đôn, con trai của Mi-ca, Sa-phan, thơ ký, và A-sa-gia, quan cận thần vua, mà rằng:
20Siangpahrang mah, Hilkiah, Shaphan capa Ahikam, Mikah capa Abdon, ca tarikkung Shaphan hoi siangpahrang ih tamna Asiah khaeah,
21Hãy vì ta, vì các người Y-sơ-ra-ên và vì người Giu-đa còn sót lại, mà đi cầu vấn Đức Giê-hô-va về các lời phán của sách này đã tìm lại được vì cơn giận của Đức Giê-hô-va đã giáng trên chúng ta thật lớn thay, bởi các tổ phụ ta không gìn giữ lời phán của Đức Giê-hô-va, và chẳng làm theo các điều đã chép trong sách này.
21aicae ampanawk loe Angraeng ih lok tahngai o ai, hae cabu thungah tarik ih Angraeng ih lok to pazui o ai pongah, Angraeng Sithaw loe aicae nuiah paroeai palungphui tih boeh, to pongah caeh oh loe, a hnuk o ih Sithaw lok cabu kawng pongah, timaw ka sak o han, tiah kai hanah maw, Israel hoi Judah prae ih anghmat kaminawk hanah maw, Angraeng khaeah lokdueng oh, tiah a naa.
22Hinh-kia và các kẻ vua sai đi đến Hun-đa, nữ tiên tri, vợ của Sa-lum, là người giữ áo lễ, con trai của Tô-cát, cháu Hát-ra; bà ở tại Giê-ru-sa-lem trong quận thứ nhì; chúng nói với bà theo các lời vua đã phán.
22Siangpahrang mah patoeh ih kaminawk loe Hasrah capa Tikvath, Tikvath capa Shallum ih zu tahmaa nongpata Huldah hoiah lok aram hanah, Hilkiah hoi nawnto caeh o; prophet nongpata ih sava loe Shallum, anih loe siangpahrang ih khukbuen khenzawnkung ahg oh (anih loe Jerusalem vangpui aluek bangah oh:) nihcae loe to prophet nongpata hoiah lok aram o.
23Bà bèn nói với chúng rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Hãy nói cùng người đã sai các ngươi đến cùng ta rằng:
23Tahmaa nongpata mah nihcae khaeah, Israel Angraeng Sithaw mah, Nang khaeah ang patoeh o ih kaminawk khaeah, hae tiah lokthui pae ah, tiah ang naa.
24Đức Giê-hô-va phán như vầy: nầy ta sẽ khiến các tai vạ giáng trên chỗ này và trên dân ở chỗ này, tức là các sự rủa sả chép trong sách mà người ta đã đọc trước mặt vua Giu-đa.
24Angraeng mah, Khenah, hae ahmuen hoi hae hmuen ah kaom kaminawk khaeah kasae raihaih ka phaksak han; Judah siangpahrang hmaa ah kroek pae o ih cabu thungah kaom tangoenghaih doeh ka phaksak han;
25Bởi vì chúng đã lìa bỏ ta, xông hương cho các tà thần, lấy các công việc tay chúng nó làm mà chọc giận ta; nên cơn thạnh nộ ta sẽ đổ ra trên chỗ này, không hề nguôi.
25nihcae loe kai ang pahnawt o moe, kalah sithawnawk khaeah hmuihoih to thlaek o; angmacae ban hoiah sak o ih hmuennawk hoiah nihcae mah kai palung ang phui o sak boeh; to pongah kadueh thai ai, palung ka phuihaih hae ahmuen ah ka kraih han, tiah a thuih.
26Còn vua Giu-đa đã sai các ngươi đi cầu vấn Đức Giê-hô-va, các ngươi hãy nói cho người như vầy: Về các lời ngươi đã nghe, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán như vầy:
26Angraeng khae hnik hanah nangcae patoehkung, Judah siangpahrang mah thaih ih cabu thung ih lok baktih toengah, siangpahrang khaeah Israel Angraeng Sithaw mah hae tiah thuih, tiah thui pae oh;
27Khi ngươi nghe lời ta phán nghịch cùng chỗ này, và nghịch cùng dân cư nó, thì ngươi có lòng mềm mại, hạ mình xuống trước mặt ta, xé áo ngươi, và khóc lóc tại trước mặt ta; bởi vậy cho nên ta cũng có nghe ngươi.
27hae ahmuen hoi hae ahmuen ah khosah kaminawk hanah acoe paekhaih lok na thaih naah, poeknaemhaih palungthin to na tawnh moe, Sithaw hmaa ah poek pahnaemhaih hoiah na khukbuen na sih pacoengah, ka hmaa ah na qah pongah, na lok to kang tahngaih pae, tiah Angraeng mah thuih.
28Kìa, ta sẽ khiến ngươi về cùng tổ phụ ngươi, ngươi sẽ được chôn bình an, và mắt ngươi sẽ chẳng thấy các tai vạ ta toan giáng xuống trên chốn này cùng trên dân cư nó. Chúng bèn tâu lại cho vua những lời ấy.
28Khenah, vaihi nam panawk khaeah kang haksak han boeh, nang loe kamong ah taprong thungah na caeh tih; hae ahmuen hoi hae ah khosah kaminawk nuiah ka phaksak han ih kasae hmuennawk boih to na mik hoiah na hnu mak ai, tiah a naa. Nihcae mah to lok to siangpahrang khaeah sin pae o let.
29Vua bèn sai người nhóm các trưởng lão Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
29To pacoengah siangpahrang mah Judah hoi Jerusalem ih kacoehtanawk boih to kawk moe,
30Đoạn, vua đi lên đền Đức Giê-hô-va, có hết thảy người Giu-đa, dân cư Giê-ru-sa-lem, những thầy tế lễ, người Lê-vi, và cả dân sự, từ nhỏ đến lớn, đều đi theo người; người đọc cho chúng nghe các lời của sách giao ước đã tìm được trong đền của Đức Giê-hô-va,
30siangpahrang loe Judah prae ih kaminawk, Jerusalem ih kaminawk, qaimanawk, Levinawk, kathoeng kalen kaminawk boih hoi nawnto, im thungah caeh o tahang, Angraeng im ah hnuk o ih lokkamhaih cabu thung ih loknawk boih to nihcae mah thaih o hanah Josiah mah kroek pae.
31Vua đứng tại chỗ mình, lập giao ước trước mặt Đức Giê-hô-va, hứa đi theo Đức Giê-hô-va, hết lòng hết ý gìn giữ các điều răn, chứng cớ, và luật lệ của Ngài, đặng làm trọn lời giao ước đã chép trong sách ấy.
31Siangpahrang mah Angraeng to pakrong moe, a paek ih loknawk to pazui moe, a thuih ih loknawk hoi patukhaihnawk to poekhaih palungthin boih hoi pazui pacoengah, hae cabu thungah tarik ih lokkamhaih loknawk to pazui boih han, tiah angmah ih ahmuen ah angdoet hoiah Angraeng hmaa ah lokkamhaih to a sak.
32Người cũng khiến những người ở Giê-ru-sa-lem và Bên-gia-min ưng theo giao ước ấy. Vậy, dân cư Giê-ru-sa-lem đều làm theo giao ước của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ.
32Jerusalem vangpui hoi Benjamin prae ah kaom kaminawk boih mah, to lokkamhaih to pazui hanah thuih o. Jerusalem ah kaom kaminawk loe ampanawk ih Sithaw lokkamhaih baktih toengah sak o.
33Giô-si-a cất hết thảy sự gớm ghiếc khỏi các xứ thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, và buộc hết thảy những người ở xứ Y-sơ-ra-ên phải phục sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Trọn đời Giô-si-a, chúng hằng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, chẳng lìa bỏ Ngài.
33Panuet thok krangnawk to Josiah mah Israel prae thung boih hoiah takhoe king; Israel prae thung ih kaminawk boih angmacae Angraeng Sithaw ih tok to a saksak. Nihcae loe hing thung angmacae ampanawk ih Angraeng Sithaw ih loklam to amkhraeng o taak ai.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.