II Sử 15
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Thần Đức Chúa Trời cảm động A-xa-ria, con trai của Ô-đết: người đi ra đón A-sa, mà nói với người rằng:
1HIKI mai la ka Uhane o ke Akua maluna o Azaria ke keiki a Odeda;
2Hỡi A-sa, cả Giu-đa, và Bên-gia-min, hãy nghe lời ta: Các ngươi theo Đức Giê-hô-va chừng nào, thì Đức Giê-hô-va ở với các ngươi chừng nấy; nếu các ngươi tìm Ngài, ắt sẽ gặp Ngài được; nếu các ngươi lìa bỏ Ngài, thì Ngài sẽ lìa bỏ các ngươi.
2Hele aku la ia e halawai pu me Asa, i aku la ia ia, E hoolohe mai ia'u, e Asa, a me ka Iuda a pau, a me ka Beniamina; o Iehova pu kekahi me oukou i ko oukou noho pu ana me ia; ina e imi oukou ia ia, e loaa no oia ia oukou; aka, ina e haalele oukou ia ia, e haalele kela ia oukou.
3Đã lâu ngày, Y-sơ-ra-ên không có Chúa thật, không có thầy tế lễ dạy dỗ, cũng chẳng có luật pháp;
3I na la he nui loa, aole ia Iseraela ke Akua oiaio, aohe kahuna ao, aole ke kanawai.
4song trong lúc khốn khó, chúng trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, mà tìm cầu Ngài, thì lại gặp Ngài đặng.
4Aka, i ko lakou wa pilikia, a huli lakou ia Iehova i ke Akua o ka Iseraela, a imi aku ia ia, ua loaa no oia ia lakou.
5Trong thì ấy, dân của xứ phải bị sự rối loạn nhiều, kẻ ra kẻ vào không được bằng yên.
5I keia mau la, aole maluhia o ka mea i puka iwaho, a me ka mea i komo iloko, no ka mea, nui ka haunaele ma ko na aina a pau loa.
6Nước nầy giày đạp nước kia, thành này giày đạp thành nọ; vì Đức Chúa Trời lấy đủ thứ khổ nạn làm cho chúng rối loạn.
6Ua lukuia kekahi lahuikanaka, e kekahi lahuikanaka, a me kekahi kulanakauhale e kekahi kulanakauhale; no ka mea, ua hooweliweli mai ke Akua ia lakou me na mea ino a pau.
7Song các ngươi hãy mạnh lòng, tay các ngươi chớ nhát sợ, vì việc các ngươi làm sẽ được phần thưởng.
7E hookanaka oukou, aole e hoonawaliwali ko oukou mau lima; no ka mea, e ukuia ka oukou hana ana.
8Khi A-sa đã nghe các lời này và lời tiên tri của tiên tri Ô-đết, thì giục lòng mạnh mẽ, bèn trừ bỏ những thần tượng gớm ghiếc khỏi cả đất Giu-đa và Bên-gia-min, cùng khỏi các thành người đã đoạt lấy trên miền núi Eùp-ra-im; người tu bổ lại cái bàn thờ của Đức Giê-hô-va ở trước hiên cửa Đức Giê-hô-va.
8A lohe ae la o Asa i keia mau olelo a me ka wanana a Odeda ke kaula, hooikaika iho la oia ia ia iho, a kipaku aku la i na kii lapuwale mai ka aina aku a pau o Iuda, a me Beniamina a me na kulanakauhale ana i lawe pio ai ma ka mauna o Eperaima: a hana hou oia i ke kuahu o Iehova, aia no imua o ka lanai o Iehova.
9Người nhóm hiệp hết thảy người Giu-đa, người Bên-gia-min, và kẻ khách thuộc về chi phái Eùp-ra-im, Ma-na-se, và Si-mê-ôn, vẫn kiều ngụ với chúng; vì có nhiều người Y-sơ-ra-ên khi thấy rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của A-sa ở cùng người, thì đều về đằng người.
9A hoakoakoa oia i ka Iuda a pau, a me ka Beniamina, a me ka poe malihini e noho pu ana me lakou mai loko mai o Eperaima a me Manase, a mai loko mai o Simeona; no ka mea, he nui loa ka poe no ka Iseraela i lilo mai ia ia, i ko lakou ike ana, aia no o Iehova kekahi pu me ia.
10Tháng ba năm mười lăm đời A-sa, chúng nhóm hiệp tại Giê-ru-sa-lem;
10A ua hoakoakoaia lakou ma Ierusalema, i ka malama ekolu o ka makahiki umikumamalima o ke aupuni o Asa.
11nhằm ngày ấy họ lấy trong các súc vật mình đã đoạt được dẫn về bảy trăm con bò đực và bảy ngàn con chiên mà tế lễ Đức Giê-hô-va.
11A mohai aku la lakou ia Iehova ia la i kekahi o ka waiwai pio a lakou i lawe ai, ehiku haneri bipi, a me na hipa ehiku tausani.
12Chúng toan ước nhau hết lòng hết ý tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình,
12Hana iho la lakou i ka berita e imi ia Iehova i ke Akua o ko lakou poe kupuna me ko lakou naau a pau a me ko lakou uhane a pau;
13và hễ ai không tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, thì sẽ bị xử tử vô luận nhỏ hay lớn, nam hay nữ.
13A o kela mea keia mea i imi ole aku ia Iehova i ke Akua o ka Iseraela, e make no ia, ka mea uuku a me ka mea nui, o ke kane a me ka wahine.
14Chúng cất tiếng lớn mà thề cùng Đức Giê-hô-va, reo mừng, thổi kèn, thổi còi.
14A hoohiki lakou ia Iehova me ka leo nui, a me ka uwa ana, a me na pu a me na mea hokiokio.
15Cả Giu-đa đều vui mừng về lời thề ấy, vì chúng hết lòng mà phát thề, và hết ý tìm cầu Đức Giê-hô-va; rồi chúng tìm gặp Ngài đặng. Đức Giê-hô-va bèn ban cho chúng được bình an bốn phía.
15A olioli o ka Iuda a pau no ka hoohiki ana; no ka mea, hoohiki lakou me ko lakou naau a pau, a ua imi lakou ia ia, me ko lakou makemake a pau a ua loaa no oia ia lakou. A hoomalu o Iehova ia lakou a puni.
16Vả lại, vì Ma-a-ca, mẹ vua A-sa, đã làm một hình tượng gớm ghê cho thần A-sê-ra, nên vua A-sa lột chức thái hậu của bà, đánh đổ hình tượng ấy và nghiền nát đi, rồi thiêu đốt trong trũng Xết-rôn.
16A o Maaka ka makuwahine o Asa ke alii, kipaku aku la oia ia ia mai kona nohoalii ana'ku, no ka mea, ua hana oia i kii no Asetarota, wawahi iho la o Asa i kana kii, a hehi oia ia mea, a puhi i ke ahi ma ke kahawai o Kederona.
17Song các nơi cao không phá dỡ khỏi Y-sơ-ra-ên; dầu vậy, lòng A-sa vẫn trọn lành cả đời người.
17Aole hoi i laweia'ku na wahi kiekie mai Iseraela aku; aka, o ka naau o Asa, ua pololei no ia i kona mau la a pau loa.
18Người đem vào đền của Đức Giê-hô-va các vật thánh của cha người, và những vật mà chính mình người đã biệt riêng ra thánh, hoặc vàng, hoặc bạc, hay là những khí dụng.
18A ua hookomo oia iloko o ka hale o ke Akua i na mea a kona makuakane i hoolaa ai, a me kana mau mea laa no hoi, i ke kala a me ke gula a me na ipu.
19Chẳng có giặc giã cho đến năm thứ ba mươi lăm đời A-sa.
19Aole kana hou a hiki i ka makahiki kanakolukumamalima o ke aupuni o Asa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.