II Sử
Chapter 31
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Khi các việc ấy đã xong, những người Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó đi ra các thành Giu-đa, đập bể những trụ thờ, đánh đổ các thần A-sê-ra, phá dỡ những nơi cao, và các bàn thờ trong khắp đất Giu-đa, Bên-gia-min, Eùp-ra-im, và Ma-na-se, cho đến khi đã phá hủy hết thảy. Đoạn, hết thảy dân Y-sơ-ra-ên ai nấy đều trở về thành mình, về nơi sản nghiệp mình.
1A PAU ae la keia mau mea a pau, hele iwaho ka Iseraela a pau i hoakoakoaia ma na kulanakauhale o ka Iuda, a kuipalu iho la i na kii, a oki liilii i na kii no Asetarota. a wawahi i na wahi kiekie, a me na kuahu ma Iuda a pau, a me Beniamina, a me Eperaima no hoi, a me Manase, a pau ae la ia mau mea. Alaila, hoi na mamo a Iseraela a pau, kela kanaka keia kanaka i kona aina hooili, i ko lakou mau kulanakauhale iho.
2Ê-xê-chia lập lại các ban thứ của những thầy tế lễ và của người Lê-vi, tùy theo phần việc của mỗi người đặng dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân, đặng phụng sự, cảm tạ, và hát ngợi khen Chúa tại nơi các cửa trại của Đức Giê-hô-va.
2A hoonoho o Hezekia i na papa o ka poe kahuna, a me na Levi, e like me ko lakou papa, o kela kanaka keia kanaka e like me kana oihana, i na kahuna a me na Levi ma ka mohaikuni a me na mohai aloha, e lawelawe, a e hoomaikai aku, a e hoolea aku ma na puka o na halelewa o Iehova.
3Người cũng định phần vua phải lấy trong tài sản mình đặng dùng làm của lễ thiêu về buổi sớm mai và buổi chiều, cùng dùng về những của lễ thiêu trong ngày sa-bát, ngày mồng một, và trong các ngày lễ trọng thể, y như đã chép trong luật pháp của Đức Giê-hô-va.
3Hoomaopopo no hoi oia i kauwahi noloko mai o ka waiwai a ke alii, i mau mohaikuni, i mau mohai no ke kakahiaka, a me ke ahiahi; i mau mohai no na Sabati, a no na mahina hou, a no na ahaaina, e like me ka mea i kakauia iloko o ke kanawai o Iehova.
4Người cũng truyền cho dân sự ở tại Giê-ru-sa-lem, phải cung cấp phần của những thầy tế lễ và người Lê-vi, hầu cho chúng chuyện lo gìn giữ luật pháp của Đức Giê-hô-va.
4Olelo ia i na kanaka i ka poe i noho ma Ierusalema, e haawi aku i ka haawina o ka poe kahuna, a me na Levi i ikaika lakou ma ke kanawai o Iehova.
5Khi chỉ dụ của vua mới truyền ra, thì dân Y-sơ-ra-ên đem đến rất nhiều sản vật đầu mùa về ngũ cốc, rượu, dầu, mật, và những thổ sản khác; chúng đem đến một phần mười của mọi vật thật rất nhiều.
5A hoolahaia keia olelo, hoonui iho la ka poe mamo a Iseraela i ka ohi mua ana o ka ai, a me ka waina, a me ka aila, a me ka meli, a me na mea a pau o ke kihapai i ohiia'i; a lawe nui mai lakou i ka hapaumi o ia mau mea a pau.
6Người Y-sơ-ra-ên và người Giu-đa ở trong các thành xứ Giu-đa, cũng đều đem đến nộp một phần mười về bò và chiên, cùng một phần mười về các vật đã biệt riêng ra thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng, rồi để ra từng đống.
6A o na mamo a Iseraela, a me ka Iuda, ka poe noho ma na kulanakauhale o Iuda, lawe mai lakou i ka hapaumi o na bipi, a me na hipa, a me ka hapaumi o na mea laa i hoolaaia ia Iehova ko lakou Akua, a waiho akoakoa lakou ia mau mea, he puu okoa no, a he puu okoa.
7Tháng thứ ba, chúng khởi gom lại từng đống, và qua đến tháng bảy mới xong.
7I ka malama ekolu, hoomaka lakou e hookumu i na puu, a i ka malama ehiku, ua hoopau lakou.
8Khi Ê-xê-chia và các quan trưởng đến, thấy các đống ấy, thì ngợi khen Đức Giê-hô-va, và chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.
8Alaila, hiki mai o Hezekia, a me na alii, a ike i na puu, a hoomaikai lakou ia Iehova, a i kona poe kanaka i ka Iseraela.
9Ê-xê-chia hỏi thăm những thầy tế lễ và người Lê-vi về tích những đống ấy.
9Ninau o Hezekia i na kahuna a me na Levi no na puu.
10A-xa-ria, thầy tế lễ cả về dòng Xa-đốc, thưa lại cùng người mà rằng: Từ khi dân sự khởi đem lễ vật vào trong đền Đức Giê-hô-va, thì chúng tôi có ăn được đầy đủ, và còn dư lại nhiều; vì Đức Giê-hô-va đã ban phước cho dân sự Ngài; còn số nhiều này, ấy là phần dư lại.
10Hai mai o Azaria, ke kahuna nui, no ka hale o Zadoka, i mai la, Mai ka hoomaka ana mai e lawe i ka mohai iloko o ka hale o Iehova, he ai no a maona, a koe no ka nui; no ka mea, ua hoomaikai mai o Iehova i kona poe kanaka; a eia ke koena, o keia mea he nui no.
11Ê-xê-chia truyền dọn dẹp các phòng trong đền Đức Giê-hô-va; người ta bèn dọn dẹp,
11Alaila, kauoha o Hezekia e hoomakaukau i na keena oluna ma ka hale o Iehova: a hoomakaukau iho la lakou,
12rồi đem vào cách ngay thẳng các lễ vật, thuế một phần mười, và các vật thánh. Cô-na-nia, người Lê-vi, cai quản những vật ấy, và Si-mê-i, em người, làm phó;
12A lawe iloko no lakou me ka oiaio i na makana, a me ka hookupu hapaumi, a me na mea i hoolaaia; a o ka luna maluna o keia mau mea oia o Konania ka Levi, a o Simei o kona hoahanau ka lua.
13còn Giê-hi-ên, A-xa-xia, Na-hát, A-sa-ên, Giê-ri-mốt, Giô-sa-bát, Ê-li-ên, Gít-ma-kia, Ma-hát, và Bê-na-gia, đều làm kẻ coi sóc dưới quyền Cô-na-nia và Si-mê-i, em người, cứ theo lịnh của vua Ê-xê-chia và A-xa-ria, là người cai trị đền Đức Chúa Trời.
13A o Iehiela, a me Azaria, a me Nahata, o Asahela a me Iremota, a me Iozabada, o Eliela, a me Isemakia, a o Mahata, a me Benaia oia ka poe luna, malalo iho o Konania, a me Simei, kona hoahanau, ma ke kanawai o Hezekia ke alii, a me Azaria, ka luna o ka hale o ke Akua.
14Cô-rê, con trai của Dim-na, người Lê-vi, là kẻ giữ cửa phía đông, được đặt cai quản các lễ vật lạc ý dâng cho Đức Chúa Trời, đặng phân phát các lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va và những vật rất thánh.
14A o Kore ke keiki a Imena o ka Levi, ka mea kiai puka ma ka hikina, maluna oia o na makana no ke Akua, e haawi i na makana no Iehova a me na mea i hoolaa loa ia.
15Dưới tay người có Ê-đen, Min-gia-min, Giê-sua, Sê-ma-gia, A-ma-ria, và Sê-ca-nia, ở trong các thành thầy tế lễ, đặng phân phát lễ vật ấy cách công bình cho anh em mình, hoặc nhỏ hay lớn, thao ban thứ của họ.
15A mahope ona, o Edena, a me Miniamina, a me Iesua, a me Semaia, a me Amaria, a me Sikania, ma na kulanakauhale o na kahuna, e haawi maopopo na ko lakou poe hoahanau, ma na papa, e like me ka mea nui, pela no ka mea uuku.
16Ngoại trừ những nam đinh đã biên tên vào gia phổ từ ba tuổi sắp lên, tức những kẻ theo ban thứ mình mà vào đền Đức Giê-hô-va đặng phụng sự trong chức mình, làm việc ngày nào theo ngày nấy;
16A okoa ka haawi ana ma ko lakou kuauhau mai ka poe kane o na makahiki ekolu, a maluna ae, a hiki i ka poe a pau i komo iloko o ka hale o Iehova, i wahi mea i kela la keia la, no ko lakou lawelawe ana ma ka lakou mau oihana e like me ko lakou mau papa;
17lại phân phát cho những thầy tế lễ đã theo tông tộc mình mà ghi tên vào gia phổ, và cho người Lê-vi từ hai mươi tuổi sắp lên, tùy theo chức phận và ban thứ của họ;
17A me ke kuauhau o na kahuna e like me ko ka hale o ko lakou poe kupuna, a i na Levi, mai ka makahiki iwakalua a oi aku, ma ka lakou mau oihana, a me ko lakou mau papa:
18cùng phân phát cho hết thảy con nhỏ của họ, vợ họ, con trai và con gái họ, tức cả hội chúng đã ghi tên vào gia phổ; vì chúng thành tín biệt mình riêng ra đặng nên thánh.
18A me ke kuauhau o ka lakou poe keiki liilii, a me ka lakou mau wahine, a me ka lakou poe keikikane, a me ka lakou poe kaikamahine, i ka ahakanaka a pau; no ka mea, e like me ka mea mau ia lakou, huikala iho la lakou ia lakou iho:
19Còn về con cháu A-rôn, tức là những thầy tế lễ ở trong đồng ruộng, rải rác nơi địa hạt các thành của họ, thì có đặt trong mỗi thành những người gọi từng tên, đặng phân phát phần cho hết thảy người nam trong những thầy tế lễ và cho những kẻ trong vòng người Lê-vi đã ghi tên vào gia phổ.
19A i ka poe mamo a Aarona ke kahuna ma na kula, kahi e pili ana i ko lakou mau kulanakauhale, ma kela kulanakauhale, keia kulanakauhale, o na kanaka i kapaia ko lakou mau inoa, e haawi i na makana na ka poe kane a pau o na kahuna, a na na Levi a pau i kuauhauia.
20Trong khắp Giu-đa, Ê-xê-chia làm như vậy. Người làm những điều lành, ngay thẳng và chân thành, tại trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của người.
20Pela i hana'i o Hezekia ma Iuda a pau, hana maikai no ia, a me ka pololei, a me ka oiaio imua o Iehova, kona Akua.
21Trong các việc người làm, hoặc quản lý sự phục dịch nơi đền của Đức Chúa Trời, hoặc theo luật pháp hay là điều răn đặng tìm kiếm Đức Chúa Trời của người, thì người hết lòng mà làm, và được hanh thông.
21I na hana a pau ana i hoomaka'i, i mea e hookauwa aku ai na ka hale o ke Akua, a me ke kanawai, a me ke kauoha, e imi aku i kona Akua, me kona naau a pau oia kana i hana'i, a ua kokuaia mai.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.