II Sử 3
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Sa-lô-môn khởi cất đền Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, trên núi Mô-ri-a, là nơi Đức Giê-hô-va đã hiện ra cùng Đa-vít, cha người, tại trên chỗ mà Đa-vít đã dọn, tức là trong sân đạp lúa của Oït-na, người Giê-bu-sít.
1HOOMAKA iho la o Solomona e kapili i ka hale o Iehova ma Ierusalema, ma ka mauna o Moria, ma kahi i ikeia mai ai oia e Davida, kona makuakane, ma kahi a Davida i hoomakaukau ai i kahihehi palaoa o Orenana ka Iebusa.
2Sa-lô-môn khởi xây cất nhằm ngày mồng hai tháng hai, năm thứ tư đời người trị vì.
2Hoomaka iho la oia e kapili hale, i ka makahiki eha o kona noho alii ana, i ka malama elua, a i ka la elua o ia malama.
3Nầy là nền Sa-lô-môn đã lập đặng cất đền của Đức Chúa Trời: bề dài, theo thước xưa, là sáu mươi thước, và bề ngang hai mươi thước.
3Eia ka hookumu ana o ka hale o ke Akua a Solomona i kukulu ai: o na kubita o ka loa e like me ke ana mua ana he kanaono kubita, a o ka laula he iwakalua kubita.
4Hiên cửa ở phía trước, bề dài hai mươi thước, y như bề ngang của đền vậy, và bề cao một trăm hai mươi thước; người bọc bề trong bằng vàng ròng.
4A o ka loa o ka lanai ma ke ala, ua like ia me ka laula o ka hale he iwakalua kubita, a o kona kiekie hookahi haneri kubita a me ka iwakalua, a uhi iho la oia ia mea maloko me ke gula maemae.
5Cái vách đền lớn, người lợp bằng gỗ bá hương, và bọc vàng ròng, chạm hình cây chà là và dây xích ở trên.
5A o ka hale nui, kapili no ia i ka laau paina, a uhi iho la i ke gula maikai, hoonoho iho la maluna olaila i na lala loulu i kalaiia a me na kaula.
6Người lót đền bằng đá quí đặng trang sức nó; vàng là vàng Phạt-va-im.
6A hoonaniia ka hale i na pohaku maikai a me ke gula, i ke gula o Parevaima.
7Người lại bọc vàng cái đền, mè, ngạch cửa, vách, và cửa của đền, còn trên vách thì chạm hình chê-ru-bin.
7A uhi no hoi ia i ka hale, i na kaola, a me na paepae, a me na pa ona, a me kona mau puka i ke gula, a kalai oia i na kerubima maluna o na pa.
8Người cũng làm nơi chí thánh: bề dài hai mươi thước, y như bề ngang của đền, và bề ngang cũng hai mươi thước; người bọc nơi ấy bằng vàng ròng; vàng dùng cộng đặng sáu trăm ta lâng.
8Hana iho la oia i ka hale hoano loa, o ka loa ua like pu ia me ka laula o ka hale, he iwakalua kubita, a o kona laula he iwakalua kubita, a uhi iho la oia ia mea i ke gula maemae eono haneri talena.
9Những đinh vàng cân nặng năm mươi siếc lơ; người cũng bọc vàng các phòng cao.
9A o na kui ma ke kaupaona ana he kanalima sekela gula; a uhi iho la oia i na keena maluna i ke gula.
10Tại trong nơi chí thánh, người làm hai chê-ru-bin, cứ phép trổ tượng, rồi bọc vàng.
10A iloko o ka hale hoano loa, hana iho la oia i na kerubima elua, mamuli o ka hana kalai kii, a uhi iho la oia ia mau mea i ke gula.
11Bốn cánh của hai chê-ru-bin dài hai mươi thước; cánh này của chê-ru-bin bên hữu dài năm thước, đụng đến vách đền, còn cánh kia cũng dài năm thước, và đụng cánh của chê-ru-bin bên tả.
11O na eheu o na kerubima he iwakalua kubita ka loa; o ke eheu o kekahi elima kubita e pa ana ma ka paia o ka hale; a o ka eheu o kekahi elima no kubita e pa ana i ka eheu o kela kerubima.
12Cánh này của chê-ru-bin về bên tả dài năm thước, và đụng đến vách đền, còn cánh kia cũng dài năm thước, tiếp giáp với cánh chê-ru-bin về bên hữu.
12O ka eheu o kekahi kerubima elima no kubita e pa ana ma ka paia o ka hale; a o ka eheu o kekahi elima no kubita e pa ana i ka eheu o kela kerubima.
13Các cánh của hai chê-ru-bên đều sè ra, cộng dài hai mươi thước; hai chê-ru-bin đứng thẳng chân lên, ngảnh mặt hướng về nơi thánh.
13O na eheu o keia mau kerubima i hoholaia he iwakalua kubita; a ku laua ma ko laua mau wawae, a maloko ko laua alo.
14Người lại chế bức màn bằng chỉ màu xanh, màu tím, màu đỏ sặm, cùng chỉ gai xe mịn, rồi ở trên thêu hình chê-ru-bin.
14Hana iho la ia i ka paku lole uli, a me ka ulaula ahiahia, a me ka ulaula maoli, a me ka lole pulupulu maikai, a hana iho la oia i na kerubima maluna ona.
15Đằng trước đền, người xây hai cây trụ, bề cao ba mươi lăm thước, đầu trụ ở trên chót hai trụ được năm thước.
15Hana iho la oia no ke alo o ka hale i na kia elua he kanakolukumamalima kubita ka loa, a o ka papale maluna o kona poo elima kubita.
16Người lại làm dây xích giống như dây xích trong nơi chí thánh, để trên chót trụ, rồi làm một trăm trái lựu mà gắn nơi dây xích ấy.
16Hana iho la no hoi oia i na kaula iloko o kahi laa, a kau maluna o na poo o na kia, a hana no hoi ia i na pomegerane hookahi haneri, a kau aku maluna o ua mau kaula la.
17Người dựng hai trụ đó ở trước đền thờ, cây nầy bên hữu, cây kia bên tả; đặt tên cây bên hữu là Gia-kin và cây bên tả là Bô-ách.
17Kukulu iho la oia i na kia ma ke alo o ka luakini ma ka aoao akau kekahi, a ma ka aoao hema kekahi; a kapa aku la ia i ka inoa o ka mea ma ka akau o Iakina, a i ka inoa o ka mea ma ka hema o Boaza.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.