II Sử
Chapter 24
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Giô-ách được bảy tuổi khi người lên làm vua; người cai trị bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem; mẹ người tên là Xi-bia, quê ở Bê-e-Sê-ba.
1E HIKU makahiki o Ioasa i kona wa i alii ai, a noho alii iho la oia i na makahiki hookahi kanaha ma Ierusalema; a o ka inoa o kona makuwahine o Zibia no Beereseba.
2Giô-ách làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va trọn đời thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa.
2A hana pololei o Ioasa imua o Iehova i na la a pau o Iehoiada ke kahuna.
3Giê-hô-gia-đa cưới hai vợ cho Giô-ách; người sanh được những con trai và con gái.
3A haawi aku o Iehoiada i mau wahine elua nana, a hanau mai la nana he mau keikikane a he mau kaikamahine.
4Sau việc này, Giô-ách có ý tu bổ đền của Đức Giê-hô-va,
4Mahope iho, komo iho la iloko o ka naau o Ioasa e hoomaikai hou i ka hale o Iehova.
5bèn nhóm những thầy tế lễ và người Lê-vi, mà bảo rằng: Hãy đi khắp các thành Giu-đa, thâu lấy tiền bạc của cả Y-sơ-ra-ên, để hằng năm tu bổ lại cái đền của Đức Chúa Trời các ngươi; khá làm việc này cho mau. Song người Lê-vi trì hoãn.
5Hoakoakoa ae la oia i ka poe kahuna, a me na Levi, a olelo aku la ia lakou, E hele oukou i na kulanakauhale o Iuda, a e houluulu i kahi kala a ka Iseraela a pau i mea e hoomaikai hou ai i ka hale o ko oukou Akua, i kela makahiki keia makahiki; e wikiwiki oukou i keia hana. Aka, aole i hana wawe na Levi.
6Vua vời thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-gia-đa, mà bảo rằng: Cớ sao ngươi không có buộc những người Lê-vi từ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đem nộp bạc thuế, mà Môi-se, tôi tớ của Đức Giê-hô-va, đã định cho hội chúng Y-sơ-ra-ên phải dâng cho trại chứng cớ?
6Kahea aku la ke alii ia Iehoiada ka luna, a olelo aku la ia ia, No ke aha la i hoeueu ole aku ai oe i na Levi e lawe mai, mailoko mai o Iuda a me Ierusalema i ka auhau a Mose ke kauwa a Iehova i kau aku ai maluna o ka ahakanaka o ka Iseraela, no ka halelewa o ke kanawai?
7Vì A-tha-li, người nữ độc ác kia, và các con trai nàng đã phá hủy đền của Đức Chúa Trời; và chúng nó đã dâng các vật thánh của đền Đức Giê-hô-va cho thần Ba-anh.
7No ka mea, o Atalia, ua wahine ino la, a o kana mau keiki kekahi, wawahi iho la lakou i ka hale o ke Akua, a hoolilo lakou i na mea laa a pau o ka bale o Iehova na Baala.
8Vua bèn truyền dạy người ta đóng một cái hòm, để phía ngoài cửa đền Đức Giê-hô-va.
8Olelo ke alii, a hana lakou i pahu, a waiho iho la ia mea mawaho ma ka puka o ka hale o Iehova.
9Rồi người ta rao cho khắp xứ Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem ai nấy phải đem dâng cho Đức Giê-hô-va tiền thuế mà Môi-se, tôi tớ của Đức Chúa Trời, đã định về Y-sơ-ra-ên tại trong đồng vắng.
9A kukala aku la lakou ma Iuda, a ma Ierusalema, E lawe mai na Iehova i ka auhau a Mose, ke kauwa a ke Akua i kau aku ai maluna o ka Iseraela ma ka waonahele.
10Hết thảy các quan trưởng và cả dân sự đều vui mừng, đem bạc đến bỏ vào trong hòm cho đến đầy.
10A hauoli iho la na kaukaualii a pau a me na kanaka a pau, a lawe mai lakou, a hahao iloko o ka pahu, a hoopau ae la.
11Khi người Lê-vi thấy trong hòm đựng nhiều bạc, bèn đem nó lên giao cho vua kiểm soát; thơ ký vua và người của thầy tế lễ thượng phẩm đều đến trút hòm ra, rồi đem để lại chỗ cũ. Mỗi ngày họ làm như vậy, và thâu được rất nhiều bạc.
11A i ka wa i laweia mai ai ka pahu imua o na luna o ke alii e na Levi, a ike lakou ua nui ke kala, alaila hele mai ka lunakakau o ke alii, a me ka luna o ke kahuna nui, a hoohuli lakou i ka pahu, a lawe ae ia mea, a hoihoi aku i kona wahi; pela lakou i hana'i i kela la i keia la, a hoiliili lakou i ke kala he nui loa.
12Vua và Giê-hô-gia-đa giao bạc ấy cho những kẻ coi sóc công việc trong đền Đức Giê-hô-va; họ mướn thợ đẽo đá, và thợ mộc, đặng tu bổ đền Đức Giê-hô-va; cũng mướn những thợ sắt và thợ đồng đặng sửa lại đền Đức Giê-hô-va.
12A o ke alii a me Iehoiada, haawi laua i keia mea i ka poe ia lakou ka hana ma ka hale o Iehova, a hoolimalima lakou i poe kalai pohaku, a i ka poe kamana, e hoomaikai hou i ka hale o Iehova, a i poe kui hao a me ke keleawe, e hoopaa hou i ka hale o Iehova.
13Vậy, các thợ làm công việc, và nhờ tay họ việc tu bổ được thành; chúng làm lại đền của Đức Chúa Trời như cũ, và làm cho vững chắc.
13A hana iho la ka poe paahana, a paa ia hana ia lakou, a kukulu lakou i ka hale o ke Akua, e like me kona ano mamua, hana hoi lakou a paa.
14Khi đã làm xong, chúng bèn đem bạc còn dư lại đến trước mặt vua và Giê-hô-gia-đa; người ta dùng bạc ấy làm những đồ lễ về đền Đức Giê-hô-va, tức những đồ dùng về việc phụng sự, và về cuộc tế lễ, những chén, và những khí dụng bằng vàng bằng bạc. Trọn đời Giê-hô-gia-đa, người ta hằng dâng của lễ thiêu tại đền của Đức Giê-hô-va luôn luôn.
14A paa ia hana, lawe mai lakou imua o ke alii a me Iehoiada i ke koena o ke kala, a hana lakou i na kiaha no ka hale o Iehova, i na kiaha e lawelawe ai, a e mohai aku ai, a me na puna a me na kiaha gula a me ke kala. A mohai mau aku lakou i na mohai iloko o ka hale o Iehova i na la a pau o Iehoiada.
15Vả, Giê-hô-gia-đa đã trở về già tuổi rất cao, rồi qua đời; lúc người thác, được một trăm ba mươi tuổi.
15A elemakule iho la o Iehoiada, a nui loa kona mau la, a make iho la ia. Hookahi haneri kona mau makahiki a me kanakolu, i kona make ana.
16Người ta chôn người tại trong thành Đa-vít chung với các vua, vì người có công lao trong Y-sơ-ra-ên, có hầu việc Đức Chúa Trời, và tu bổ đền của Ngài.
16A kanu lakou ia ia iloko o ke kulanakauhale o Davida me na alii, no ka mea, ua hana pono ia iloko o ka Iseraela, i ke Akua kekahi, a i kona hale iho no hoi.
17Sau khi Giê-hô-gia-đa đã qua đời, các quan trưởng Giu-đa đến chầu lạy vua. Vua bèn nghe theo lời của chúng,
17A mahope o ka make ana o Iehoiada, hele mai na kaukaualii o luda, a kulou imua o ke alii; alaila, hoolohe ke alii ia lakou.
18lìa bỏ đền Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, mà phục sự những thần A-sê-ra và các hình tượng; tại cớ tội lỗi ấy, bèn có cơn giận của Chúa nghịch cùng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
18A haalele lakou i ka hale o Iehova, ke Akua o ko lakou poe kupuna, a hookauwa lakou na Asetarota a me na kii; a hiki mai ka huhu maluna o Iuda, a me Ierusalema no keia hewa o lakou.
19Đức Giê-hô-va sai các đấng tiên tri đến cùng chúng, để dắt chúng trở lại cùng Đức Giê-hô-va; nhưng chúng không chịu nghe.
19Hoouna mai no nae oia io lakou la i na kaula e hoohuli ia lakou ia Iehova, a e ao pinepine ia lakou, aka, aole lakou i hoolohe.
20Thần của Đức Chúa Trời cảm động Xa-cha-ri, con trai của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa; người đứng dậy trước mặt dân sự, mà nói rằng: Đức Chúa Trời phán như vầy: Cớ sao các ngươi phạm các điều răn của Đức Giê-hô-va? Các ngươi sẽ chẳng may mắn được, vì đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va, và Đức Giê-hô-va cũng đã lìa bỏ các ngươi.
20Alaila, kau mai la i ka Uhane o ke Akua maluna o Zekaria, ke keiki a Iehoiada, ke kahuna, a ku ae la ia imua o kanaka, olelo mai la ia lakou, Penei i olelo mai ai ke Akua. No ke aha la oukou i malama ole ai i na kanawai o Iehova, i pono ole ai oukou? No ka mea, ua haalele oukou ia Iehova, a ua haalele no hoi kela ia oukou.
21Chúng bèn phản nghịch với người, và theo lịnh vua ném đá người tại trong hành lang của đền Đức Giê-hô-va.
21Alaila, hui ku e lakou ia ia, hailuku lakou ia ia i ka pohaku, mamuli o ke kauoha a ke alii ma ka lanai o ka hale o Iehova.
22Aáy vậy, vua Giô-ách không nhớ đến sự nhân từ của Giê-hô-gia-đa, cha của A-cha-xia, đã làm cho mình, nhưng giết con trai người đi; khi người chết thì có nói rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va xem xét và báo lại cho!
22Pela i hoomanao ole ai o Ioasa, ke alii, i ka lokomaikai a Iehoiada a kona makuakane i hana mai ai ia in, aka, pepehi ia i kana keiki: a i kona make ana, i mai la ia, E nana mai o Iehova, a e uku mai hoi.
23Xảy khi đến cuối năm, thì đạo binh Sy-ri kéo lên hãm đánh Giô-ách; chúng nó loán đến Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, giết các quan trưởng của dân, rồi gởi hết những của cướp về cho vua tại Đa-mách.
23A i ka pau ana o ka makahiki, pii ku e mai la io na la ko Suria poe koa; a komo lakou iloko o Iuda, a me Ierusalema, a luku mai la lakou i na kaukaualii o na kanaka mailoko mai o ka poe kanaka, a hoouka aku la i ka waiwai pio a pau o lakou i ke alii ma Damaseko.
24Đạo binh Sy-ri kéo đến có ít người, Đức Giê-hô-va lại phó một đạo binh rất đông vào tay chúng nó, bởi vì họ đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình. Như vậy, dân Sy-ri xử hình phạt cho Giô-ách.
24No ka mea, he poe uuku ko Suria poe i hele mai, aka, ua haawi mai o Iehova iloko o ko lakou lima i ka poe nui loa, no ka mea, ua haa. lele lakou nei ia Iehova ke Akua o ko lakou poe kupuna. Pela lakou i hoopai mai ai ia Ioasa.
25Khi chúng đã bỏ đi rồi (vả chúng để người ở lại bị đau nặng), các đầy tớ người bèn phản nghịch cùng người, vì cớ huyết của con trai thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa, giết người tại trên giường, và người chết; người ta chôn người tại trong thành Đa-vít, song không phải trong mồ các vua.
25A i ko lakou hoi ana mai ona aku, (no ka mea, he mai nui kona i ko lakou hanlele ana ia ia,) hui ku e kana poe kauwa ia ia, no ke koko o na keiki a Iehoiada, ke kahuna, a pepehi lakou ia ia maluna o kona wahi moe, a make iho la ia; a ua kanu lakou ia ia iloko o ke kulanakauhale o Davida, aole nae i kanu lakou ia ia iloko o ka ilina o na'lii.
26Nầy là những kẻ dấy nghịch cùng người: Xa-bát, con trai của Si-mê-át, là đàn bà Am-môn, và Giô-xa-bát, con trai Sim-rít, là đàn bà Mô-áp.
26Eia na mea i hui ku e ia ia; o Zabada, ke keiki a Simeata, a kekahi wahine Amona, a o Iehozabada ke keiki a Simerita, a kekahi wahine Moaba.
27Còn về việc các con trai người, số cống thuế người phải nộp, và cuộc tu bổ đền của Đức Giê-hô-va, thảy đều chép trong sách truyện các vua. A-ma-xia, con trai người, cai trị thế cho người.
27A no kana poe keiki, a me na mea nui i kauia maluna ona, a no ka hoomaikai hou ana i ka hale o ke Akua, aia hoi. ua kakauia ia mau mea ma ka palapala o ka buke no ua'lii. A noho alii iho la o Amazia kana keiki mahope ona.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.