II Sử
Chapter 20
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Cornilescu Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
1Sau các việc này, xảy có dân Mô-áp, dân Am-môn, và những người Mao-nít ở cùng họ, kéo đến đặng đánh giặc với Giô-sa-phát
1Дупэ ачея, фиий луй Моаб ши фиий луй Амон ши ку ей ниште маониць ау порнит ку рэзбой ымпотрива луй Иосафат.
2Bấy giờ, có người đến thuật cho Giô-sa-phát, mà rằng: Có một đám quân rất đông từ bên bờ kia của biển, từ nước Sy-ri, mà đến hạm đánh vua; kìa chúng đang ở tại Hát-sát-son-Tha-ma, cũng gọi là Eân-ghê-đi.
2Ау венит ши ау дат де штире луй Иосафат, зикынд: „О маре мулциме ынаинтязэ ымпотрива та де динколо де маре, дин Сирия, ши сунт ла Хацацон-Тамар, адикэ Ен-Геди.”
3Giô-sa-phát sợ hãi, rắp lòng tìm cầu Đức Giê-hô-va, và rao khắp xứ Giu-đa phải kiêng ăn một ngày.
3Ын спайма са, Иосафат шь-а ындрептат фаца сэ кауте пе Домнул ши а вестит ун пост пентру тот Иуда.
4Giu-đa nhóm lại đặng cầu Đức Giê-hô-va cứu giúp; người ta ở các thành Giu-đa đều đến đặng tìm cầu Đức Giê-hô-va.
4Иуда с-а адунат сэ кеме пе Домнул ши ау венит дин тоате четэциле луй Иуда сэ кауте пе Домнул.
5Giô-sa-phát đứng trong hội chúng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, tại trong đền của Đức Giê-hô-va, trước hành lang mới,
5Иосафат а венит ын мижлокул адунэрий луй Иуда ши а Иерусалимулуй, ын Каса Домнулуй, ынаинтя курций челей ной.
6mà cầu nguyện rằng: Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi! Ngài há chẳng phải là Chúa ở trên các từng trời sao? Há chẳng phải Đấng quản trị muôn dân muôn nước sao? ỳ nơi tay Chúa có quyền thế năng lực, chẳng ai chống trả Chúa cho nổi.
6Ши а зис: „Доамне, Думнезеул пэринцилор ноштри, ну ешть Ту Думнезеу ын черурь ши ну стэпынешть Ту песте тоате ымпэрэцииле нямурилор? Оаре н-ай Ту ын мынэ тэрия ши путеря, аша кэ нимень ну Ци се поате ымпотриви?
7Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi! Ngài há chẳng phải đã đuổi dân ở xứ này khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, mà ban xứ ấy cho dòng dõi Aùp-ra-ham, là bạn hữu Chúa, làm sản nghiệp đời đời sao?
7Оаре н-ай изгонит Ту, Думнезеул ностру, пе локуиторий цэрий ачестея динаинтя попорулуй Тэу Исраел ши н-ай дат-о Ту пентру тотдяуна де моштенире семинцей луй Авраам, каре Те юбя?
8Chúng đã ở đó, và đã cất cho danh Chúa một đền thánh mà rằng:
8Ей ау локуит-о ши Ць-ау зидит ын еа ун локаш сфынт пентру Нумеле Тэу, зикынд:
9Nếu tai họa giáng trên chúng tôi, hoặc gươm giáo, hoặc sự đoán phạt, hoặc dịch hạch, hay là cơn đói kém, thì chúng tôi sẽ đứng trước đền này và trước mặt Chúa (vì danh Chúa ở trong đền này), mà kêu cầu Chúa trong sự gian nan chúng tôi, thì Chúa sẽ dủ nghe và giải cứu cho.
9‘Дакэ ва вени песте ной врео ненорочире, сабия, жудеката, чума сау фоаметя, не вом ынфэциша ынаинтя касей ачестея ши ынаинтя Та, кэч Нумеле Тэу есте ын каса ачаста; вом стрига кэтре Тине дин мижлокул стрымторэрий ноастре, ши Ту не вей аскулта ши не вей мынтуи!’
10Trong lúc dân Y-sơ-ra-ên từ xứ Ê-díp-tô lên, Chúa có cấm họ loán đến xứ dân Am-môn, dân Mô-áp, và người ở núi Sê-i-rơ; dân Y-sơ-ra-ên xây khỏi chúng nó, không diệt chúng nó đi;
10Акум, ятэ, фиий луй Амон ши ай луй Моаб ши чей дин мунтеле Сеир, ла каре н-ай ынгэдуит луй Исраел сэ интре кынд веня дин цара Еӂиптулуй – кэч с-а абэтут де ла ей ши ну й-а нимичит –,
11kìa, chúng nó báo lại chúng tôi dường nào, đến toan đuổi chúng tôi khỏi sản nghiệp Chúa đã ban cho chúng tôi nhận lấy.
11ятэ-й кум не рэсплэтеск акум, венинд сэ не изгоняскэ дин моштениря Та, пе каре не-ай дат-о ын стэпынире!
12Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi ôi, chớ thì Ngài sẽ không xét đoán chúng nó sao? Vì nơi chúng tôi chẳng còn sức lực gì đối địch cùng đám quân đông đảo này đang đến hãm đánh chúng tôi, và chúng tôi cũng không biết điều gì mình phải làm; nhưng con mắt chúng tôi ngửa trông Chúa!
12О, Думнезеул ностру, ну-й вей жудека Ту пе ей? Кэч ной сунтем фэрэ путере ынаинтя ачестей марь мулцимь каре ынаинтязэ ымпотрива ноастрэ ши ну штим че сэ фачем, дар окий ноштри сунт ындрептаць спре Тине!”
13Cả Giu-đa đều đứng tại trước mặt Đức Giê-hô-va với các đứa nhỏ, vợ, và con cái mình.
13Тот Иуда стэтя ын пичоаре ынаинтя Домнулуй, ку прунчий, невестеле ши фиий лор.
14Bấy giờ, tại giữa hội chúng, Thần Đức Giê-hô-va cảm động Gia-ha-xi-ên, con trai Xa-cha-ri, cháu Bê-na-gia, chắt Giê-hi-ên, chít Ma-tha-nia, là người Lê-vi thuộc về dòng A-sáp,
14Атунч, Духул Домнулуй а венит ын мижлокул адунэрий песте Иахазиел, фиул луй Захария, фиул луй Беная, фиул луй Иеиел, фиул луй Матания, Левитул, динтре фиий луй Асаф.
15mà phán rằng: Hỡi các người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem, cùng vua Giô-sa-phát, hãy nghe! Đức Giê-hô-va phán cho các ngươi như vầy: Chớ sợ, chớ kinh hãi bởi cớ đám quân đông đảo này: vì trận giặc này chẳng phải của các ngươi đâu, bèn là của Đức Chúa Trời.
15Ши Иахазиел а зис: „Аскултаць, тот Иуда ши локуиторий дин Иерусалим, ши ту, ымпэрате Иосафат! Аша вэ ворбеште Домнул: ‘Ну вэ темець ши ну вэ ынспэймынтаць динаинтя ачестей марь мулцимь, кэч ну вой вець лупта, чи Думнезеу.
16Ngày mai, hãy đi xuống đón chúng nó: kìa, chúng nó đi lên dốc Xít, các ngươi sẽ gặp chúng nó nơi đầu trũng, trước mặt đồng vắng Giê-ru-ên.
16Мыне коборыци-вэ ымпотрива лор. Ей се вор суи пе дялул Циц ши-й вець гэси ла капэтул вэий, ын фаца пустиулуй Иеруел.
17Trong trận này các ngươi sẽ chẳng cần gì tranh chiến; hãy dàn ra, đứng yên lặng mà xem thấy sự giải cứu của Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi. Hỡi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem! chớ sợ, chớ kinh hãi; ngày mai, hãy đi ra đón chúng nó, vì Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi.
17Ну вець авя де луптат ын лупта ачаста; ашезаци-вэ, стаць аколо ши вець ведя избэвиря пе каре в-о ва да Домнул. Иуда ши Иерусалим, ну вэ темець ши ну вэ ынспэймынтаць; мыне, ешици-ле ынаинте, ши Домнул ва фи ку вой!’”
18Giô-sa-phát bèn cúi sấp mặt xuống đất; và cả Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem đều sấp mặt xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, mà thờ lạy Ngài.
18Иосафат с-а плекат ку фаца ла пэмынт ши тот Иуда ши локуиторий Иерусалимулуй с-ау арункат ынаинтя Домнулуй сэ се ынкине ынаинтя Луй.
19Người Lê-vi về dòng Kê-hát và về dòng Cô-rê đều đứng dậy cất tiếng lớn mà khen ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
19Левиций динтре фиий кехатицилор ши динтре фиий кореицилор с-ау скулат ши ау лэудат ку глас таре ши путерник пе Домнул Думнезеул луй Исраел.
20Buổi sớm mai, chúng đều chổi dậy thật sớm, kéo ra đồng vắng Thê-cô-a; đang lúc chúng đi, Giô-sa-phát đứng tại đó, mà nói rằng: Hỡi người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem! hãy nghe ta: Khá tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, thì các ngươi sẽ vững chắc; hãy tin các đấng tiên tri Ngài, thì các ngươi sẽ được may mắn.
20А доуа зи, ау порнит дис-де-диминяцэ спре пустиул Текоа. Ла плекаря лор, Иосафат а венит ши а зис: „Аскултаци-мэ, Иуда ши локуиторий Иерусалимулуй! Ынкредеци-вэ ын Домнул Думнезеул востру ши вець фи ынтэриць; ынкредеци-вэ ын пророчий Луй, ши вець избути.”
21Khi người đã bàn nghị với dân sự, bèn lập những người ca xướng cho Đức Giê-hô-va mặc áo lễ thánh mà đi ra trước cơ binh ngợi khen Chúa rằng: Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì sự thương xót Ngài hằng có đời đời.
21Апой, ын ынвоире ку попорул, а нумит ниште кынтэрець каре, ымбрэкаць ку подоабе сфинте ши мергынд ынаинтя оштирий, лэудау пе Домнул ши зичяу: „Лэудаць пе Домнул, кэч ындураря Луй цине ын вяк!”
22Đang lúc chúng khởi ca hát và ngợi khen thì Đức Giê-hô-va đặt phục binh xông vào dân Am-môn, dân Mô-áp và những kẻ ở núi Sê-i-rơ đã đến hãm đánh Giu-đa; và các dân ấy đều bị bại.
22Ын клипа кынд ау ынчепут кынтэриле ши лауделе, Домнул а пус о пындэ ымпотрива фиилор луй Амон ши ай луй Моаб ши ымпотрива челор дин мунтеле Сеир, каре венисерэ ымпотрива луй Иуда. Ши ау фост бэтуць.
23Dân Am-môn và dân Mô-áp dấy lên đánh dân ở núi Sê-i-rơ, đặng diệt chúng nó đi; khi đã diệt dân ở Sê-i-rơ rồi, thì chúng lại trở giết lẫn nhau.
23Фиий луй Амон ши ай луй Моаб с-ау арункат асупра локуиторилор дин мунтеле Сеир ка сэ-й нимичяскэ ку десэвыршире ши сэ-й прэпэдяскэ. Ши, дупэ че ау испрэвит ку локуиторий дин Сеир, с-ау ажутат уний пе алций сэ се нимичяскэ.
24Khi dân Giu-đa đến tháp canh nơi đồng vắng, nhìn đến đám quân đông đảo, thì thấy những thây nằm sãi trên đất, chẳng có một ai thoát khỏi được.
24Кынд а ажунс Иуда пе ынэлцимя де унде се зэреште пустиул, с-ау уйтат ынспре мулциме, ши ятэ кэ ей ерау ниште трупурь моарте ынтинсе пе пэмынт ши нимень ну скэпасе.
25Giô-sa-phát và dân sự người đến cướp lấy tài vật của chúng, thấy có nhiều của cải, xác chết, và đồ quí báu, bèn cướp lấy cho đến chừng đem đi không đặng; họ cướp lấy tài vật trong ba ngày, vì là rất nhiều.
25Иосафат ши попорул сэу с-ау дус сэ я прэзиле; ау гэсит принтре трупурь мулте богэций ши лукрурь скумпе ши ау луат атыт де мулте, кэ н-ау путут сэ ле дукэ пе тоате. Трей зиле ау прэдат, кэч ера мултэ прадэ.
26Qua ngày thứ tư, họ nhóm hiệp tại trũng Bê-ra-ca, vì nơi đó họ ngợi khen Đức Giê-hô-va; bởi cớ ấy người ta đặt tên chỗ đó là trũng Bê-ra-ca cho đến, ngày nay.
26А патра зи, с-ау стрынс ын Валя Берака, унде ау бинекувынтат пе Домнул, де ачея ау нумит локул ачеста Валя Берака, нуме каре й-а рэмас пынэ ын зиуа де азь.
27Hết thảy người Giu-đa và người Giê-ru-sa-lem cùng Giô-sa-phát đi đầu trước, trở về Giê-ru-sa-lem cách vui vẻ; vì Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng vui mừng, vì cớ quân thù nghịch mình bị đánh bại.
27Тоць оамений дин Иуда ши дин Иерусалим, ын фрунте ку Иосафат, ау плекат весель ши с-ау ынторс ла Иерусалим, кэч Домнул ый умплусе де букурие, избэвинду-й де врэжмаший лор.
28Chúng gảy đàn cầm, đàn sắt, và thổi sáo mà trở về Giê-ru-sa-lem, đến đền của Đức Giê-hô-va.
28Ау интрат ын Иерусалим ши ын Каса Домнулуй, ын сунете де алэуте ши де харпе ши трымбице.
29Khi các nước thiên hạ nghe Đức Giê-hô-va đã đánh bại quân thù nghịch của Y-sơ-ra-ên, thì lấy làm kinh hãi Đức Chúa Trời.
29Гроаза Домнулуй а апукат тоате ымпэрэцииле челорлалте цэрь кынд ау аузит кэ Домнул луптасе ымпотрива врэжмашилор луй Исраел.
30Vậy, nước của Giô-sa-phát được hòa bình, vì Đức Chúa Trời người ban cho người sự an nghỉ bốn bên.
30Ши ымпэрэция луй Иосафат а фост лиништитэ ши Думнезеул луй й-а дат паче де жур ымпрежур.
31Vậy, Giô-sa-phát làm vua nước Giu-đa; khi lên ngôi thì tuổi được ba mươi lăm, và người cai trị hai mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem; tên mẹ người là A-xu-ba, con gái của Si-li.
31Иосафат а домнит песте Иуда. Авя трейзечь ши чинч де ань кынд а ажунс ымпэрат ши а домнит доуэзечь ши чинч де ань ла Иерусалим. Мама са се кема Азуба, фата луй Шилхи.
32Người đi theo con đường của A-sa, cha người, không lìa bỏ, làm điều ngay thẳng trước mặt Đức Giê-hô-va.
32Ел а мерс пе каля татэлуй сэу, Аса, ши ну с-а абэтут делок, фэкынд че есте бине ынаинтя Домнулуй.
33Song người không trừ bỏ các nơi cao, và dân sự chưa dốc lòng tìm cầu Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.
33Нумай кэ ынэлцимиле н-ау фост ындепэртате, ши попорул тот н-авя инима стрынс липитэ де Думнезеул пэринцилор сэй.
34Các công việc khác của Giô-sa-phát từ đầu đến cuối, đều chép trong truyện Giê-hu, con trai Ha-na-ni, và truyện ấy đã đem vào sách các vua Y-sơ-ra-ên.
34Челелалте фапте але луй Иосафат, челе динтый ши челе де пе урмэ, сунт скрисе ын история луй Иеху, фиул луй Ханани, каре есте купринсэ ын картя ымпэрацилор луй Исраел.
35Sau việc đó, Giô-sa-phát, vua Giu-đa, kết giao với A-cha-xia, vua Y-sơ-ra-ên; người này ăn ở rất gian ác.
35Дупэ ачея, Иосафат, ымпэратул луй Иуда, с-а унит ку ымпэратул луй Исраел, Ахазия, а кэруй пуртаре ера нелеӂюитэ.
36Hai vua hội hiệp nhau đặng đóng tàu vượt đi Ta-rê-si; họ đóng tàu tại Ê-xi-ôn-Ghê-be.
36С-а унит ку ел ка сэ зидяскэ ниште корэбий, каре сэ мяргэ ла Тарсис, ши ау фэкут корэбий ла Ецион-Гебер.
37Khi ấy, Ê-li-ê-xe, con trai Đô-đa-va ở Ma-rê-sa, nói tiên tri về vua Giô-sa-phát, mà rằng: Bởi vì vua kết giao với A-cha-xia, nên Đức Giê-hô-va đã hủy phá công việc vua; những tàu bèn bị bể nát, không vượt đi Ta-rê-si được.
37Атунч, Елиезер, фиул луй Додава, дин Мареша, а пророчит ымпотрива луй Иосафат ши а зис: „Пентру кэ те-ай унит ку Ахазия, Домнул ыць нимичеште лукраря.” Ши корэбииле ау фост сфэрымате ши н-ау путут сэ се дукэ ла Тарсис.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.