Луки 19
Kulish and Puluj Bible (1905)Translation
Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1І вийшовши проходив через Єрихон.
1Đức Chúa Jêsus vào thành Giê-ri-cô, đi ngang qua phố.
2І ось чоловік, на ймя званий Закхей, а був він старший між митниками, й був заможний.
2Tại đó, có một người tên là Xa-chê, làm đầu bọn thâu thuế, và giàu có.
3І бажав бачити Ісуса, хто Він, та не зміг за народом, бо малого був зросту.
3Người đó tìm xem Đức Chúa Jêsus là ai, nhưng không thấy được, vì đoàn dân đông lắm, mà mình lại thấp.
4І, побігши наперед, вилїз на шовковицю, щоб подивитись на Него; бо туди мав проходити.
4Vậy, Xa-chê chạy trước, trèo lên cây sung, để ngó thấy Đức Chúa Jêsus, vì Ngài phải đi qua đó.
5І, як прийшов на те місце, споглянувши Ісус, побачив його, й рече до него: Закхею, злїзь боржій додолу; сьогоднї бо в дому твоїм треба менї бути.
5Đức Chúa Jêsus đến chỗ ấy, ngước mắt lên mà phán rằng: Hỡi Xa-chê, hãy xuống cho mau, vì hôm nay ta phải ở nhà ngươi.
6І злїз він боржій, і прийняв Його радїючи.
6Xa-chê vội vàng xuống và mừng rước Ngài.
7І бачивши всї, нарікали, кажучи: Що до грішника чоловіка пійшов у гостину.
7Ai nấy thấy vậy, đều lằm bằm rằng: Người nầy vào nhà kẻ có tội mà trọ!
8Ставши ж Закхей, каже до Господа: Ось половину достатку мого, Господи, даю вбогим; і коли кого чим обидив, віддаю вчетверо.
8Song Xa-chê đứng trước mặt Chúa, thưa rằng: Lạy Chúa, nầy, tôi lấy nửa gia tài mình mà cho kẻ nghèo, và nếu có làm thiệt hại ai, bất k” việc gì, tôi sẽ đền gấp tư.
9Рече ж до него Ісус: Що сьогоднї спасеннє домові сьому сталось, бо й він син Авраамів:
9Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hôm nay sự cứu đã vào nhà nầy, vì người nầy cũng là con cháu Aùp-ra-ham.
10прийшов бо Син чоловічий, щоб шукати й спасати погибше.
10Bởi Con người đã đến tìm và cứu kẻ bị mất.
11Як же слухали вони се, додавши сказав приповість: бо був Він близько Єрусалиму, й думали вони, що зараз має царство Боже явитись.
11Họ nghe những lời ấy, thì Đức Chúa Jêsus thêm một thí dụ nữa, vì Ngài gần đến thành Giê-ru-sa-lem, và người ta tưởng rằng nước Đức Chúa Trời sẽ hiện ra ngay.
12Рече ж оце: Один чоловік значного роду йшов у землю далеку прийняти собі царство, та й вернутись.
12Vậy, Ngài phán rằng: Có một vị thế tử đi phương xa, đặng chịu phong chức làm vua rồi trở về;
13Покликавши ж десять слуг своїх, дав їм десять мин срібла, та й сказав до них: Орудуйте, поки прийду.
13bèn gọi mười người trong đám đầy tớ mình, giao cho mười nén bạc, và dạy rằng: Hãy dùng bạc nầy sanh lợi cho đến khi ta trở về.
14Міщане ж його ненавидїли його, й післали посли слїдом за ним, кажучи: Не хочемо сього, щоб царював над нами.
14Song dân xứ ấy ghét người, thì sai sứ theo đặng nói rằng: Chúng tôi không muốn người nầy cai trị chúng tôi!
15І сталось, як вернув ся він, прийнявши царство, сказав прикликати собі слуг тих, що дав їм срібло, щоб знати, хто що зʼорудував.
15Khi người đã chịu phong chức làm vua rồi, trở về, đòi các đầy tớ đã lãnh bạc đến, đặng cho biết mỗi người làm lợi được bao nhiêu.
16Прийшов же первий, кажучи: Пане, мина твоя приробила десять мин.
16Đầy tớ thứ nhất đến trình rằng: Lạy Chúa, nén bạn của chúa sanh lợi được mười nén.
17І рече йому: Гаразд, добрий слуго; що у найменшому вірен був єси, то май власть над десятьма городами.
17Chủ rằng: Hỡi đầy tớ ngay lành kia, được lắm; vì ngươi trung tín trong sự nhỏ mọn, ngươi sẽ được cai trị mười thành.
18І приступив другий, кажучи: Пане, мина твоя зробила пять мин.
18Người thứ hai đến thưa rằng: Lạy chúa, nén bạc của Chúa sanh lợi ra được năm nén.
19Рече ж і сьому: І ти будь над пятьма городами.
19Chủ rằng: Ngươi được cai trị năm thành.
20Приступив і инший, кажучи: Пане, ось мина твоя, котру я мав сховану в хустцї:
20Người khác đến thưa rằng: Lạy chúa, đây nầy, nén bạc của chúa tôi đã gói giữ trong khăn;
21боявсь бо тебе, що ти чоловік жорстокий: береш, чого не клав єси, і жнеш, чого не сїяв.
21bởi tôi sợ chúa, vì chúa là người nghiêm nhặt, hay lấy trong nơi không để, gặt trong chỗ không gieo.
22Рече ж йому: З уст твоїх судити му тебе, лукавий слуго. Знав єси, що я чоловік жорстокий: беру, чого не клав, і жну, чого не сїяв;
22Chủ rằng: Hỡi đầy tớ gian ác kia, ta cứ lời ngươi nói ra mà xét ngươi. Ngươi biết ta là người nghiêm nhặt, hay lấy trong chỗ không để, gặt trong chỗ không gieo;
23а чом же не дав єси срібла мого у міняльню? і я, прийшовши, з лихвою виміг би його.
23cớ sao ngươi không giao bạc ta cho hàng bạc? Khi ta về, sẽ lấy lại vốn và lời.
24І рече стоячим коло него: Візьміть від него мину, а дайте маючому десять мин.
24Chủ lại nói cùng các người đứng đó rằng: Hãy lấy nén bạc nó đi, cho người có mười nén.
25(І казали йому: Пане, має десять мин.)
25Họ bèn thưa rằng: Lạy chúa, người ấy có mười nén rồi.
26Глаголю бо вам: Що всякому маючому дасть ся, від немаючого ж і, що має, візьметь ся від него.
26Ta nói cùng các ngươi, ai có, thì sẽ cho thêm; song ai không có, thì sẽ cất luôn của họ đã có nữa.
27А ворогів моїх тих, що не хочуть, щоб царював над ними, приведїть сюда, та й повбивайте передо мною.
27Còn như những kẻ nghịch cùng ta, không muốn ta cai trị họ, hãy kéo họ đến đây, và chém đi trước mặt ta.
28І, промовивши се, пійшов далїй, ідучи в Єрусалим.
28Sau khi Đức Chúa Jêsus phán điều đó, thì đi trước mặt dân chúng lên thành Giê-ru-sa-lem.
29І сталось, як наближавсь до Витфагиї та Витаниї, до гори, званої Оливної, післав двох з учеників своїх,
29Đức Chúa Jêsus gần đến thành Bê-pha-giê và Bê-tha-ni, ngang núi gọi là ô-li-ve, sai hai môn đồ đi,
30глаголючи: Ідїть у село, що перед вами, у котре ввійшовши, знайдете осля привязане, що на него нїхто з людей нїколи не сїдав. Одвязавши його, приведїть.
30và dặn rằng: Hãy đi đến làng trước mặt các ngươi; khi vào làng, sẽ thấy một lừa con buộc đó, chưa hề có ai cỡi; hãy mở và dắt về cho ta.
31І коли хто вас поспитає: На що одвязуєте? так скажіть йому: Що Господеві треба його.
31Hoặc có ai hỏi sao các ngươi mở nó ra, hãy trả lời rằng: Chúa cần dùng lừa nầy.
32Пійшовши ж послані, знайшли, як Він сказав їм.
32Hai người được sai ra đi, quả gặp mọi điều y như Đức Chúa Jêsus đã phán.
33Як же одвязували вони осля, казали господарі його до них: На що одвязуєте осля?
33Đang mở lừa con, các chủ lừa hỏi rằng: Sao mở lừa con nầy ra:
34Вони ж сказали: Господеві його треба.
34Hai người trả lời rằng: Chúa cần dùng nó.
35І привели його до Ісуса; й, накинувши свою одежу на осля, посадили Ісуса.
35Hai người bèn dắt lừa về cho Đức Chúa Jêsus; rồi lấy áo mình trải trên con lừa, nâng Ngài lên cỡi.
36Як же Він їхав, простилали одежу свою по дорозї.
36Khi Đức Chúa Jêsus đang đi tới, có nhiều kẻ trải áo trên đường.
37Коли ж вже наближив ся Він до збочу гори Оливної, почало все множество учеників радуючись хвалити Бога голосом великим за всї чудеса, що бачили,
37Lúc đến gần dốc núi ô-li-ve, cả đám môn đồ lấy làm mừng rỡ, và cả tiếng ngợi khen Đức Chúa Trời về những phép lạ mình đã thấy,
38говорячи: Благословен грядущий цар в імя Господнє; впокій на небі, і слава на вишинах!
38mà nói rằng: Đáng ngợi khen Vua nhân danh Chúa mà đến! Bình an ở trên trời, và vinh hiển trên các nơi rất cao!
39А деякі з Фарисеїв між народом казали до Него: Учителю, закажи ученикам Твоїм.
39Bấy giờ, có mấy người Pha-ri-si ở trong đám dân đông nói cùng Ngài rằng: Thưa thầy, xin quở trách môn đồ thầy!
40І озвавшись рече їм: Глаголю вам, що коли сї замовкнуть, каміннє кричати ме.
40Ngài đáp rằng: Ta phán cùng các ngươi, nếu họ nín lặng thì đá sẽ kêu lên.
41І, як наближивсь, то, побачивши город, заплакав над ним,
41Khi Đức Chúa Jêsus gần đến thành, thấy thì khóc về thành, và phán rằng:
42глаголючи: О, коли б зрозумів і ти хоч у день сей твій, що для впокою твого! тепер же воно закрито перед очима твоїми.
42Ước gì, ít nữa là ngày nay, mầy đã hiểu biết sự làm cho mầy được bình an! Song hiện nay những sự ấy kín giấu nơi mắt mầy.
43Бо прийдуть днї на тебе, й обкинуть вороги твої валами тебе, та й обляжуть тебе, й стиснуть тебе звідусюди.
43Vì sẽ có ngày xảy đến cho mầy, khi quân nghịch đào hố xung quanh mầy, vây mầy chặt bốn bề.
44І з землею зрівняють тебе й дїти твої у тобі; і не зоставлять у тобі каменя на каменї; бо не розумів єси часу одвідин твоїх.
44Họ sẽ hủy hết thảy, mầy và con cái ở giữa mầy nữa. Không để cho mầy hòn đá nầy trên hòn đá kia, vì mầy không biết lúc mình đã được thăm viếng.
45І ввійшовши у церкву, почав виганяти продаючих і купуючих,
45Đức Chúa Jêsus vào đền thờ rồi, bèn đuổi những kẻ bán ở đó ra,
46глаголючи їм: Писано: Дом мій — дом молитви; ви ж його зробили вертепом розбійників.
46mà phán rằng: Có lời chép rằng: Nhà ta sẽ là nhà cầu nguyện; song các ngươi làm thành ra một cái hang trộm cướp.
47І навчав що-дня в церкві. Архиєреї ж та письменники й значні людські шукали Його вбити.
47Hằng ngày Ngài giảng dạy trong đền thờ. Các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, cùng người tôn trưởng trong dân tìm phương giết Ngài;
48І не знайшли, що б зробити Йому; народ бо ввесь горнувсь до Него, слухаючи.
48nhưng họ không biết dùng chước chi, vì dân sự đều chăm chỉ mà nghe Ngài nói.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.