II Sam
Chapter 19
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Kulish and Puluj B…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Người ta đến nói cùng Giô-áp rằng: Kìa, vua khóc và than tiếc Aùp-sa-lôm.
1Як переказано Йоабові: Царь плаче та побивається по Абессаломові,
2Aáy vậy, chính trong ngày đó sự thắng trận bèn đổi ra sự thảm sầu cho cả dân sự; vì dân sự đã nghe nói rằng vua rất buồn bực về sự chết của con vua.
2Тодї в той день і побіда обернулась у печаль всьому людові, бо люд того дня чув, як говорено: Царь побивається по синові!
3Nên nỗi, trong ngày đó, dân sự lén trở vào thành dường như một đạo binh mắc cỡ vì đã trốn khỏi chiến trận.
3І ввіходив того дня люд крадькома в город, як прокрадується те військо, що вкрило себе соромом, утїкаючи з бою.
4Vua trùm mặt, la lớn tiếng lên rằng: Oâi, Aùp-sa-lôm, con trai ta! Oâi, Aùp-sa-lôm, con trai ta! con trai ta!
4Царь же закрив собі лице, й плакав голосно: Сину мій, Абессаломе! Абессаломе, мій сину, мій сину!
5Giô-áp bèn vào nhà vua, và nói rằng: Ngày nay vua làm hổ mặt các kẻ tôi tớ vua, là những người chính ngày nay đã cứu mạng sống của vua, của các con trai và các con gái vua, luôn đến cứu mạng sống của các vợ và hầu vua nữa.
5І ввійшов Йоаб до царя та й каже: Сьогоднї ти зневажив усї слуги твої, що вирятували тебе, твоїх синів і дочки, твої жени й наложницї від смертї,
6Vậy, vua thương những người ghét vua, và ghét những người thương vua; vì vua mới tỏ ra rằng những quan trưởng và các tôi tớ của vua chẳng ra chi với vua. Rày tôi biết rõ ràng nếu Aùp-sa-lôm còn sống, và chúng tôi ngày nay đều chết hết thảy, thì vừa ý vua.
6Бо тим, хто зненавидїв тебе, показав єси прихильність, а тим, хто прихилявся до тебе — ненависть. Сьогоднї обявив єси, що в тебе нїзащо гетьмани й слуги; сьогоднї взнав я, що коли б Абессалом остав був жив, а ми всї погибили, се тебе задовольнило б уповнї.
7Thà vua chổi dậy, đi ra nói những lời giục lòng các tôi tớ vua; vì tôi chỉ Đức Giê-hô-va mà thề rằng, nếu vua không chường ra, thì đêm nay sẽ không còn một người nào ở bên vua; và tai nạn ấy sẽ còn trọng hơn các tai nạn khác đã xảy đến cho vua từ khi thơ ấu tới ngày nay.
7Устань же! вийди й заговори приязно до підданих твоїх, бо присягаюсь тобі Господом: Як не вийдеш до люду, так іще сієї ночі не зостанеться в тебе нї чоловіка, а се буде гірше, нїж усе те лихо, якого дознав єси від молодощів твоїх та й до сього часу.
8Bấy giờ, vua chổi dậy, ngồi tại cửa thành. Người ta cho cả dân sự biết rằng vua đã ngồi tại cửa thành. Cả dân sự bèn kéo đến trước mặt vua. Vả, Y-sơ-ra-ên ai nấy đều đã chạy trốn nơi trại mình.
8І встав царь і сїв у ворот. І сповіщено всьому народові, що царь седить у брамі, й ввесь люд прийшов перед царя; Ізрайлитяне ж порозбігались по шатрах своїх.
9Trong các chi phái Y-sơ-ra-ên người ta trách nhau rằng: Vua đã giải chúng ta khỏi tay kẻ thù nghịch chúng ta, và người đã cứu chúng ta khỏi tay dân Phi-li-tin. Song bây giờ, người phải trốn khỏi xứ vì cớ Aùp-sa-lôm.
9Увесь же народ по всїх поколїннях Ізрайлевих перечився між собою й говорив: Царь визволив нас з потали в наших ворогів, визволив із рук Филистіїв, а тепер утїк перед Абессаломом із царства;
10Vả, Aùp-sa-lôm mà chúng ta đã xức dầu cho làm vua chúng ta đã chết trong chiến trận. Vậy bây giờ, nhân sao các ngươi không nói đem vua trở về?
10Та Абессалом, що ми помазали його над нами, полїг у бою; чого ж гаєтесь привернути царя?
11Vua Đa-vít sai nói cùng hai thầy tế lễ Xa-đốc và A-bia-tha rằng: Hãy nói cùng các trưởng lão Giu-đa mà rằng: Lời cả Y-sơ-ra-ên nói về việc rước vua về, đã thấu đến nơi vua rồi; vậy, cớ sao các ngươi là kẻ sau chót đem vua về cung người?
11А слова сї всього Ізраїля дойшли до царя. І послав царь до сьвященників Садока та Абіятара і повелїв сказати: Розмовтесь з громадськими мужами Юдиними та й скажіть їм: Чи ви хочете остатись послїдними в тому, щоб царя відпровадити в його палату?
12Các ngươi là anh em ta, là cốt nhục ta. Nhân sao các ngươi là kẻ sau chót đem vua về?
12Ви ж мої одноплемінники, моє тїло ви й костї; чому ж хочете бути послїдними в приверненню царя?
13Cũng hãy nói cùng A-ma-sa rằng: Ngươi há chẳng phải là cốt nhục ta sao? Nếu ngươi không làm tổng binh thế cho Giô-áp hằng ở trước mặt ta, thì nguyện Đức Chúa Trời phạt ta cách nặng nề.
13Та й Амазї скажіте: Ти ж моє тїло й кість моя. Нехай Бог удїє зо мною що схоче, коли не будеш у мене, поки жив, намість Йоаба гетьманом!
14Như vậy, Đa-vít được lòng hết thảy người Giu-đa, dường như họ chỉ một người mà thôi; họ bèn sai nói với vua rằng: Xin vua hãy trở về với hết thảy tôi tớ vua.
14І прихилив він серце всїх Юдеїв, так що вони одностійно послали до царя: Вертайсь назад із усїм двором твоїм.
15Vậy, vua trở về, đến tại bờ sông Giô-đanh. Các người Giu-đa đi đến đón vua tại Ghinh-ganh đặng đưa vua qua sông Giô-đanh.
15От і вертав царь назад і прибув до Йорданї, а Юдеї прийшли в Галгал, щоб стрічати царя й переправити через Йордань.
16Si-mê-i, con trai Ghê-ra, người Bên-gia-min ở Ba-hu-rim, lật đật đi xuống với các người Giu-đa, đón vua Đa-vít.
16Та й Беняминїй Семей Геренко з Бахуриму поквапивсь із Юдеями зустріч цареві Давидові,
17Một ngàn người Bên-gia-min đều theo người, với Xíp-ba, tôi tớ của nhà Sau-lơ, cùng mười lăm con trai người và hai mươi đầy tớ; chúng qua sông Giô-đanh tại trước mặt vua.
17А з ним тисяча чоловіка з Бенямину, та й Саулів домовий слуга Сиба, з пятнайцятьма синами своїми й двайцятьма рабами кинулись в Йордань,
18Chiếc đò để sẵn cho gia quyến vua cũng qua một lượt. Si-mê-i, con trai của Ghê-ra, phục dưới chân vua Đa-vít, trong khi vua hầu qua sông Giô-đanh.
18І перебріли вони брід, щоб родину царську перевезти й йому послужити. А як тільки царь переправивсь через Йордань, кинувсь Семей Геренко перед царем на лице своє,
19Người nói cùng vua rằng: Cầu xin chúa tôi chớ kể tội ác cho tôi, và đừng nhớ đến sự gian tà mà kẻ tôi tớ vua đã phạm trong ngày vua chúa tôi đi ra khỏi Giê-ru-sa-lem. Xin vua chớ để điều đó vào lòng.
19Та й промовив до царя: Нехай мій пан не поставить в провину й забуде про те, чим проступився твій раб того дня, як мій пан і царь покинув Ерусалим, й не передержуй того в серцї своїм;
20Kẻ tôi tớ vua nhìn biết mình đã phạm tội. Vì vậy, ngày nay trong cả nhà Giô-sép, tôi đã đến trước hết đặng xuống đón vua chúa tôi.
20Знає бо раб твій, що провинив; то ж отсе прийшов я на зустріч мойму цареві й панові, яко первий з усього дому Йосифового.
21Nhưng A-bi-sai, con trai Xê-ru-gia, đáp rằng: Vậy, người ta há không xử tử Si-mê-i vì cớ đó sao, là kẻ đã rủa sả đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va?
21І озвавсь Абесса Саруєнко та й каже: Чи вже ж Семей не наложить головою за те, що проклинав помазанника Господнього?
22Nhưng Đa-vít đáp cùng người rằng: Hỡi các con trai Xê-ru-gia, ta có can hệ chi với các ngươi chăng, mà ngày nay các ngươi ở với ta khác nào kẻ cừu địch? Trong một ngày như vậy, người ta há có thể sai giết một người trong Y-sơ-ra-ên ư? Ngày nay có lẽ nào ta không hiểu rằng ta là vua của Y-sơ-ra-ên sao?
22Однако ж Давид відказав: Що за дїло між вами й мною, Саруєнки, що ви мене спокушуєте тепер? Чи годиться ж сьогоднї кого в Ізраїлї тратити? Чи я не знаю, що сьогоднї я царь над Ізраїлем?
23Đoạn, vua nói cùng Si-mê-i rằng: Ngươi chẳng chết đâu. Rồi vua lập lời thề với người.
23От і рече царь Семеєві: Ти не вмреш, та й поклявсь йому царь.
24Mê-phi-bô-sết, con trai của Sau-lơ, cũng đi xuống đón vua. Người không có rửa chân, chải râu hay là giặt áo mình từ lúc vua ra đi, cho đến ngày vua trở về bình an vô sự.
24І Мемфівостей, внук Саулів, вийшов назустріч цареві. Не мив він собі ніг, не розчісував бороди й не прав одїжі своєї з того дня, як вийшов царь, до того дня, як він вертався здоровий.
25Khi người ở Giê-ru-sa-lem đến đón vua, thì Đa-vít hỏi người rằng: Hỡi Mê-phi-bô-sết, sao ngươi không đến cùng ta?
25Як він прибув із Ерусалиму на зустріч цареві, спитав його царь: Чом ти не пійшов зо мною, Мемфівостею?
26Người thưa rằng: Oâi vua chúa tôi, thằng tôi tớ tôi có đánh lừa tôi. Thật tôi nghĩ rằng: Tôi sẽ thắng lừa, rồi cỡi nó đặng đi theo vua; vì tôi tớ của vua là què.
26І відказав той: Мій пане й царю! слуга мій зрадив мене. Бо я звелїв йому: Осїдлай менї осла, я поїду з царем, бо раб твій кульгавий,
27Người ta có cáo gian tôi ở nơi vua chúa tôi; nhưng vua chúa tôi khác nào một thiên sứ của Đức Chúa Trời. Xin hãy đãi tôi theo ý vua lấy làm tốt.
27А він оскаржив твого раба перед моїм царем і паном. Однак же мій пан і царь рівен із ангелом Божим; то ж і чини, що тобі до вподоби.
28Vì các người của nhà cha tôi trước mặt vua chúa tôi chỉ đáng chết mà thôi. Dầu vậy, vua đã để tôi vào số người ăn nơi bàn vua. Thế thì, tôi nào còn có lẽ gì mà phàn nàn cùng vua?
28Уся моя родина не могла нїчого ждати від мого пана й царя, як хиба тільки смертї, а ти раба твого прийняв між твої сутрапезники; яке ж іще маю я право жалуватись; чого менї ще допевнятись у царя?
29Vua nói cùng người rằng: Sao còn nói về việc mình làm chi? Ta đã nói rằng: Ngươi và Xíp-ba hãy chia lấy đất.
29І відказав йому царь: На що стільки слів тратити? Призначую: Ти подїлишся добром із Сибою.
30Mê-phi-bô-sết thưa lại rằng: Xíp-ba lấy hết cũng được, bởi vua chúa tôi đã trở về nhà mình bình an vô sự.
30І відказав Мемфівостей цареві: Нехай він хоч і все забере собі, добре, що мій пан і царь в мирі вернувсь до дому.
31Bát-xi-lai ở Ga-la-át cũng từ Rô-ghê-lim xuống, và qua sông Giô-đanh với vua đặng đưa vua đến bên kia sông.
31Прийшов і Галаадїй Берзеллїй з Роглиму й перейшов з царем Йордань, щоб його провести за Йордань.
32Người đã già quá, được tám mươi tuổi, có cung cấp lương thực cho vua trọn lúc vua ở tại Ma-ha-na-im; vì người có nhiều của cải lắm.
32Берзеллїй же був дуже старий чоловік, лїт вісїмдесятьох. Він обмислив царя під час його побуту в Махаїмі, був бо собі вельми заможний?
33Vua nói với Bát-xi-tai rằng: Hãy qua sông Giô-đanh với ta, ta sẽ bao bọc cho ngươi ở nhà ta tại Giê-ru-sa-lem.
33І сказав царь Берзеллїєві: Ійди зо мною, а я буду обмисляти тебе в Ерусалимі.
34Nhưng Bát-xi-lai thưa cùng vua rằng: Bây giờ tôi còn bao lâu ngày nữa, mà lại cùng vua đi lên Giê-ru-sa-lem?
34Берзеллїй же відказав цареві: Скільки ще віку мого, щоб менї йти з царем у Ерусалим?
35Ngày nay tôi được tám mươi tuổi, há còn có thế phân biệt điều tốt và điều xấu ư? Kẻ tôi tớ vua cũng chẳng nếm được mùi của vật mình ăn và uống. Há lại có thể vui nghe người nam nữ ca xướng sao? Kẻ tôi tớ vua sẽ làm bận vua chúa tôi mà làm chi?
35Вісїмдесять год уже віку мого. Чи розберу ж я, що добре, а що недобре? або чи смакувати ме твій раб у тому, що їсти ме й що пити ме? Або ж хиба я ще наджусь на голоси сьпіваків і сьпівачок? Чого ж має раб твій бути тягарем панові мойму цареві?
36Kẻ tôi tớ vua sẽ cùng vua đi tới một chút ở bên kia sông Giô-đanh. Cớ sao vua muốn thưởng cho tôi cách dường ấy?
36Трошки проведе раб твій царя за Йордань, за що ж, царю, такою милостю менї віддячувати?
37Xin cho phép tôi trở về, hầu cho tôi chết trong thành tôi, gần bên mộ của cha mẹ tôi. Nhưng nầy là Kim-ham, kẻ tôi tớ vua; nó sẽ đi qua sông Giô-đanh với vua chúa tôi, rồi vua phải đãi nó tùy ý vua lấy làm tốt.
37Дозволь твойму кметеві вернутись, щоб умерти в батьківському городї мойму коло гробу мого панотця й моєї паніматки. А ось твій раб (син мій) Кимгам нехай би йшов із паном і царем. Чини з ним, що тобі до вподоби.
38Vua tiếp rằng: Kim-ham sẽ theo ta, ta sẽ làm cho nó mọi điều ngươi muốn; hễ ngươi xin ta điều gì, thì ta sẽ nhậm cho.
38І відказав царь: Нехай же Кимгам ійде зо мною. Я з ним чинити му, що тобі здасться добрим, і все, чого ти коли від мене схочеш, учиню для тебе.
39Vậy, cả dân sự đều qua sông Giô-đanh, chính mình vua cũng đi nữa. Đoạn vua hôn và chúc phước cho Bát-xi-lai; rồi Bát-xi-lai trở về xứ sở mình.
39Як перебрів Йордань увесь військовий люд, а з ним і царь, поцїлував царь Берзеллїя й благословив його, й вернувсь той у свою домівку.
40Từ đó, vua đi qua Ghinh-ganh, có Kim-ham, cả dân Giu-đa, và hơn phân nửa dân Y-sơ-ra-ên đều theo.
40І двинув царь у Галгал, і пійшов з ним і Кимгам, та й ввесь народ Юдин провожав царя, так само й половина люду Ізрайлевого.
41Bấy giờ, hết thảy người Y-sơ-ra-ên đến cùng vua, mà hỏi rằng: Cớ sao anh em chúng tôi là người Giu-đa, có lén đem vua, đi đưa sang sông Giô-đanh luôn với người nhà và hết thảy kẻ theo vua?
41Аж ось прийшли всї мужі Ізраїльські до царя, й сказали цареві: Чому се наші браття, мужі Юдині, потай нас перевели царя й дом його й усїх людей Давидових через Йордань?
42Người Giu-đa đáp lại cùng người Y-sơ-ra-ên rằng: Aáy vì vua là đồng tộc cùng chúng ta. Vả lại, cớ sao anh em giận? Chúng ta có ăn nhờ gì của vua chăng? Chúng ta há có lãnh một của gì nơi vua sao?
42І відказали всї мужі Юдині Ізрайлитянам: Царь же нам родич. Чого вам сердитись за се? Хиба ми зʼїли що від його, або він обдарував нас чим?
43Nhưng người Y-sơ-ra-ên đáp cùng người Giu-đa rằng: Chúng ta có mười phần nơi vua, lại Đa-vít thuộc về chúng ta hơn là các ngươi; vậy, cớ sao các ngươi không đếm xỉa đến chúng ta? Há chẳng phải chúng ta nói trước đem vua về sao? Những lời nói của người Giu-đa lại còn nặng hơn lời nói của người Y-sơ-ra-ên.
43Ізрайлитяне ж відказували мужам Юдиним: Наших частин у царя в десятеро, тако ж і в Давида ми більші за вас; чому ж ви змаловажили нас? хиба не нам належався первий голос, щоб вернути царя назад? Та слово мужів Юдиних дужче було, нїж слово Ізрайлитян.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.