กิจการ 25
Freedom Bible (Thai)Translation
Freedom Bible (Thai)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1เมื่อเฟสทัสเข้ารับตำแหน่งในแคว้นแล้ว สามวันต่อมาเขาก็ขึ้นจากเมืองซีซารียาไปกรุงเยรูซาเล็ม
1Phê-tu đã đến tỉnh mình được ba ngày rồi, thì ở thành Sê-sa-rê đi lên thành Giê-ru-sa-lem.
2มหาปุโรหิตกับเหล่าผู้นำชาวยิวจึงนำข้อกล่าวหาเปาโลมาแจ้งแก่เขา และอ้อนวอนขอให้เขา
2Tại đó, có các thầy tế lễ cả và các người sang trọng trong dân Giu-đa đội đơn kiện Phao-lô trước mặt người;
3ช่วยพวกตนโดยเรียกเปาโลไปกรุงเยรูซาเล็ม เพราะพวกเขาวางแผนซุ่มฆ่าเปาโลระหว่างทาง
3vì có ý nghịch, thì cố nài xin quan làm ơn đòi Phao-lô trở về thành Giê-ru-sa-lem: họ đặt âm mưu đặng giết người dọc đường.
4แต่เฟสทัสตอบว่าเปาโลจะถูกคุมขังอยู่ที่เมืองซีซารียา และตัวเขาเองก็จะเดินทางกลับไปที่นั่นในไม่ช้า
4Nhưng Phê-tu trả lời rằng Phao-lô bị giam tại thành Sê-sa-rê, và chính mình người sẽ kíp trở về thành đó.
5เขากล่าวว่า “เพราะฉะนั้น ให้ผู้มีอำนาจในหมู่พวกคุณลงไปกับข้าพเจ้า และถ้าชายคนนี้ทำผิดอะไร ก็ให้พวกเขากล่าวหาเขา”
5Lại nói rằng những người tôn trưởng trong các ngươi hãy xuống với ta, nếu người ấy có phạm tội gì thì hãy cứ kiện.
6หลังจากพักอยู่กับพวกเขามากกว่าสิบวัน เฟสทัสก็ลงไปเมืองซีซารียา วันรุ่งขึ้นเขานั่งบนบัลลังก์พิพากษาและสั่งให้นำเปาโลเข้ามา
6Phê-tu ở cùng họ vừa tám hay là mười ngày mà thôi, đoạn trở xuống thành Sê-sa-rê; sáng ngày sau, người ngồi nơi tòa án và truyền dẫn Phao-lô đến.
7เมื่อเปาโลเข้ามา ชาวยิวที่ลงมาจากกรุงเยรูซาเล็มก็ยืนล้อมเขาและกล่าวหาเขาด้วยข้อหาร้ายแรงหลายอย่างซึ่งพวกเขาพิสูจน์ไม่ได้
7Phao-lô mới đến, thì có các người Giu-đa ở thành Giê-ru-sa-lem xuống vây bọc người, lấy nhiều cớ nặng mà thưa, nhưng chẳng tìm được chứng.
8เปาโลแก้ต่างว่า “ข้าพเจ้าไม่ได้ทำผิดต่อธรรมบัญญัติของชาวยิว ต่อพระวิหาร หรือต่อซีซาร์เลย”
8Còn Phao-lô nói đặng binh vực mình, rằng: Tôi chẳng từng làm điều dữ chi, hoặc nghịch cùng luật pháp người Giu-đa, hoặc nghịch cùng đền thờ, hay là nghịch cùng Sê-sa.
9แต่เฟสทัสต้องการเอาใจชาวยิว จึงถามเปาโลว่า “ท่านยินดีจะขึ้นไปกรุงเยรูซาเล็มและให้ข้าพเจ้าพิพากษาเรื่องเหล่านี้ที่นั่นหรือไม่?”
9Nhưng Phê-tu muốn cho đẹp lòng dân Giu-đa, thì trả lời rằng: Ngươi có muốn lên thành Giê-ru-sa-lem chịu xử tại đó về những việc nầy trước mặt ta chăng?
10เปาโลตอบว่า “ข้าพเจ้ายืนอยู่ต่อหน้าบัลลังก์พิพากษาของซีซาร์ และที่นี่เองข้าพเจ้าควรถูกพิพากษา ข้าพเจ้าไม่ได้ทำผิดต่อชาวยิวอย่างที่ท่านเองก็รู้ดีอยู่แล้ว
10Phao-lô bèn thưa rằng: Tôi ứng hầu trước mặt tòa án Sê-sa, ấy là nơi tôi phải chịu xử; tôi chẳng có lỗi chi với người Giu-đa, như chính mình quan biết rõ ràng.
11ถ้าข้าพเจ้าทำผิดและทำสิ่งใดที่สมควรตาย ข้าพเจ้าก็ไม่ปฏิเสธที่จะตาย แต่ถ้าสิ่งที่พวกเขากล่าวหาข้าพเจ้าไม่เป็นความจริง ก็ไม่มีใครมีสิทธิ์มอบข้าพเจ้าให้พวกเขา ข้าพเจ้าขออุทธรณ์ต่อซีซาร์!”
11Ví bằng tôi có tội hay là phạm điều gì đáng chết, thì tôi chẳng từ chối chết đâu; trái lại, nếu trong đơn từ họ kiện tôi không có cớ gì hết, thì chẳng ai được nộp tôi cho họ. Tôi kêu nài sự đó đến Sê-sa.
12เมื่อเฟสทัสปรึกษากับคณะที่ปรึกษาแล้ว จึงตอบว่า “ท่านอุทธรณ์ต่อซีซาร์แล้ว ท่านก็จะได้ไปหาซีซาร์”
12Kế đó, Phê-tu bàn tán với công hội mình, bèn trả lời rằng: Ngươi đã kêu nài Sê-sa, chắc sẽ đến nơi Sê-sa.
13หลายวันต่อมา กษัตริย์อากริปปากับเบอร์นีสมาถึงเมืองซีซารียาเพื่อเยี่ยมเฟสทัส
13Cách đó mấy ngày, vua Aïc-ríp-ba với Bê-rê-nít đến thành Sê-sa-rê đặng chào Phê-tu.
14เมื่อทั้งสองพักอยู่ที่นั่นหลายวัน เฟสทัสก็เล่าคดีของเปาโลให้กษัตริย์ฟังว่า “มีชายคนหนึ่งซึ่งเฟลิกส์ทิ้งไว้เป็นนักโทษ
14Vì hai người ở lại đó mấy ngày, nên Phê-tu đem vụ Phao-lô trình với vua, rằng: Đây có một tên tù mà Phê-lít đã để lại.
15เมื่อข้าพเจ้าอยู่ที่กรุงเยรูซาเล็ม เหล่าหัวหน้าปุโรหิตกับผู้อาวุโสของชาวยิวได้นำข้อกล่าวหาเขามาแจ้ง และขอให้ข้าพเจ้าตัดสินลงโทษเขา
15Lúc tôi ở thành Giê-ru-sa-lem, các thầy tế lễ cả và các trưởng lão dân Giu-đa đến kiện người và xin tôi làm án người đi.
16ข้าพเจ้าตอบพวกเขาว่า ชาวโรมันไม่มีธรรมเนียมที่จะมอบผู้ใดให้รับโทษก่อนที่ผู้ถูกกล่าวหาจะได้เผชิญหน้ากับผู้กล่าวหา และมีโอกาสแก้ต่างในข้อกล่าวหานั้น
16Tôi đáp lại rằng người Rô-ma chẳng có lệ giải nộp một người nào mà bên bị cáo chưa đối nại với bên tiên cáo, và người đó chưa có cách thế để chống cãi lời kiện cáo mình.
17เพราะฉะนั้น เมื่อพวกเขามารวมกันที่นี่ ข้าพเจ้าก็ไม่รอช้า วันรุ่งขึ้นก็นั่งบนบัลลังก์พิพากษาและสั่งให้นำชายคนนั้นเข้ามา
17Họ bèn đến đây, thì vừa ngày sau, tôi ra ngồi nơi tòa án, không trễ nải mà truyền dẫn người ấy đến.
18เมื่อพวกผู้กล่าวหายืนขึ้น พวกเขาไม่ได้กล่าวหาเขาเรื่องความผิดอย่างที่ข้าพเจ้าคาดไว้
18Các người tiên cáo đều đã có mặt, song không kiện nó về một tội gì như tôi đã dè chừng.
19แต่กลับมีข้อโต้เถียงกับเขาเกี่ยวกับศาสนาของพวกเขาเอง และเกี่ยวกับเยซูคนหนึ่งซึ่งตายไปแล้ว แต่เปาโลยืนยันว่ามีชีวิตอยู่
19Chỉ cáo nó về đạo riêng của họ, và một tên Jêsus đã chết kia, mà Phao-lô quyết rằng còn sống.
20ข้าพเจ้าสับสนว่าจะสอบสวนเรื่องเหล่านี้อย่างไร จึงถามว่าเขายินดีจะไปกรุงเยรูซาเล็มและรับการพิพากษาเรื่องเหล่านี้ที่นั่นหรือไม่
20Trong sự cãi lẫy đó, tôi không biết theo bên nào, nên hỏi Phao-lô muốn đi đến thành Giê-ru-sa-lem, để chịu xử mọi điều ấy tại nơi đó chăng.
21แต่เมื่อเปาโลอุทธรณ์ขอให้คุมตัวไว้รอคำตัดสินของจักรพรรดิ ข้าพเจ้าจึงสั่งให้คุมเขาไว้จนกว่าจะส่งเขาไปหาซีซาร์ได้”
21Nhưng nó đã kêu nài để việc kiện mình lại cho hoàng đế phân xử. Vậy tôi đã truyền giam nó trong ngục đợi tới khi tôi giải cho Sê-sa.
22อากริปปากล่าวกับเฟสทัสว่า “ข้าพเจ้าเองก็อยากฟังชายคนนี้ด้วย” เฟสทัสตอบว่า “พรุ่งนี้ท่านจะได้ฟังเขา”
22Aïc-ríp-ba bèn nói với Phê-tu rằng: Ta cũng muốn nghe người ấy. Phê-tu tâu rằng: Đến mai vua sẽ nghe.
23วันรุ่งขึ้น อากริปปากับเบอร์นีสมาอย่างเอิกเกริก และเข้าไปในห้องพิจารณาคดีพร้อมกับพวกผู้บัญชาการทหารและบุคคลสำคัญของเมือง แล้วเฟสทัสก็สั่งให้นำเปาโลเข้ามา
23Vậy, qua bữa sau, vua Aïc-ríp-ba với Bê-rê-nít đến cách long trọng, vào phòng xử kiện với quan quản cơ và các người tôn trưởng trong thành. Phê tu bèn truyền lịnh điệu Phao-lô đến.
24เฟสทัสกล่าวว่า “กษัตริย์อากริปปา และทุกท่านที่อยู่กับพวกเราที่นี่ พวกคุณเห็นชายคนนี้ซึ่งชาวยิวจำนวนมากทั้งในกรุงเยรูซาเล็มและที่นี่พากันร้องต่อข้าพเจ้าเรื่องเขา โดยตะโกนว่าเขาไม่ควรมีชีวิตอยู่อีกต่อไป
24Đoạn, Phê-tu rằng: Tâu vua Aïc-ríp-ba và hết thảy các ông có mặt tại đây, các ông đều thấy người nầy, vì cớ nó nên thay thảy dân chúng Giu-đa đến nài xin ơn tôi, tại thành Giê-ru-sa-lem và tôi đây cũng vậy, mà kêu lên rằng chẳng khá để cho nó sống nữa.
25แต่ข้าพเจ้าพบว่าเขาไม่ได้ทำสิ่งใดที่สมควรตาย และเมื่อเขาเองอุทธรณ์ต่อจักรพรรดิ ข้าพเจ้าจึงตัดสินใจจะส่งเขาไป
25Phần tôi, đã xét nó chẳng có làm điều gì đáng tội chết; và vì chính nó cũng đã kêu nài việc đó đến Sê-sa, nên tôi định giải nộp cho Sê-sa.
26แต่ข้าพเจ้าไม่มีข้อเท็จจริงที่แน่นอนเกี่ยวกับเขาสำหรับเขียนรายงานถึงองค์จักรพรรดิ เพราะฉะนั้น ข้าพเจ้าจึงนำเขาออกมาต่อหน้าพวกคุณ โดยเฉพาะต่อหน้าท่าน กษัตริย์อากริปปา เพื่อว่าเมื่อสอบสวนแล้ว ข้าพเจ้าจะมีเรื่องเขียนรายงานได้
26Nhưng vì tôi không có điều chi quả quyết để làm sớ tâu hoàng đế về việc nó, nên đòi nó đến trước mặt các ông, nhất là trước mặt vua, là Aïc-ríp-ba, đặng khi tra hỏi rồi, tôi có điều để viết sớ.
27เพราะข้าพเจ้าเห็นว่าเป็นเรื่องไม่สมเหตุสมผลที่จะส่งนักโทษไปโดยไม่ระบุข้อกล่าวหาของเขาด้วย”
27Vả, tôi nghĩ rằng giải một tên phạm mà chẳng nói rõ điều người ta kiện nó, thì là trái lẽ lắm.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.