Toksahkungnawk 25
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To prae phakhaih ni thumto pacoengah, Festa loe Caesarea vangpui hoi Jerusalem ah caeh tahang.
1Phê-tu đã đến tỉnh mình được ba ngày rồi, thì ở thành Sê-sa-rê đi lên thành Giê-ru-sa-lem.
2To naah kalen koek qaima hoi Judah kacoehtanawk mah, Pawl koeh ai ih kawng to a thuih pae o,
2Tại đó, có các thầy tế lễ cả và các người sang trọng trong dân Giu-đa đội đơn kiện Phao-lô trước mặt người;
3Pawl to hum hanah loklam ah kaminawk angang o sak boeh pongah, Festa khaeah Pawl kawng to thuih pae o moe, anih to Jerusalem ah patoeh hanah tahmenhaih a hnik o.
3vì có ý nghịch, thì cố nài xin quan làm ơn đòi Phao-lô trở về thành Giê-ru-sa-lem: họ đặt âm mưu đặng giết người dọc đường.
4Festa mah, Pawl loe Caesarea vangpui ah suem oh, akra ai ah kai doeh to ah ka caeh han.
4Nhưng Phê-tu trả lời rằng Phao-lô bị giam tại thành Sê-sa-rê, và chính mình người sẽ kíp trở về thành đó.
5To pongah nangcae thungah ukhaih akaa tawn kaminawk kai hoi nawnto angzo oh, to kami mah zaehaih tawn nahaeloe, anih to zaehaih net oh, tiah a naa.
5Lại nói rằng những người tôn trưởng trong các ngươi hãy xuống với ta, nếu người ấy có phạm tội gì thì hãy cứ kiện.
6Nihcae khaeah ni hato a oh pacoengah, Caesarea vangpui ah a caeh tathuk; anih loe khawnbangah lokcaekhaih ahmuen ah anghnut, Pawl to a hma ah hoih hanah lok a paek.
6Phê-tu ở cùng họ vừa tám hay là mười ngày mà thôi, đoạn trở xuống thành Sê-sa-rê; sáng ngày sau, người ngồi nơi tòa án và truyền dẫn Phao-lô đến.
7Pawl angzoh naah, Jerusalem hoi angzo tathuk Judah kaminawk mah takui o, Pawl to paroeai zaehaih net o, toe a zaehaih amtueng o sak thai ai.
7Phao-lô mới đến, thì có các người Giu-đa ở thành Giê-ru-sa-lem xuống vây bọc người, lấy nhiều cớ nặng mà thưa, nhưng chẳng tìm được chứng.
8To pacoengah Pawl mah angmah angvaenghaih lok to thuih, Judahnawk ih daan to ka aek ai, tempul hoi Caesar koeh ai ih hmuen tidoeh ka sah ai, sakpazaehaih tih ta doeh ka tawn ai, tiah a naa.
8Còn Phao-lô nói đặng binh vực mình, rằng: Tôi chẳng từng làm điều dữ chi, hoặc nghịch cùng luật pháp người Giu-đa, hoặc nghịch cùng đền thờ, hay là nghịch cùng Sê-sa.
9Toe Festa mah Judahnawk koehhaih to sak pae han koeh pongah, Pawl khaeah, Ka hma ah hae loknawk caek hanah Jerusalem ah caeh han na koeh maw? tiah a naa.
9Nhưng Phê-tu muốn cho đẹp lòng dân Giu-đa, thì trả lời rằng: Ngươi có muốn lên thành Giê-ru-sa-lem chịu xử tại đó về những việc nầy trước mặt ta chăng?
10Pawl mah, Kai lokcaek han om cadoeh, kai loe Caesar lokcaekhaih hma ah ni kang doet han: kahoihah na panoek baktih toengah, Judahnawk nuiah sakpazaekhaih tidoeh ka tawn ai.
10Phao-lô bèn thưa rằng: Tôi ứng hầu trước mặt tòa án Sê-sa, ấy là nơi tôi phải chịu xử; tôi chẳng có lỗi chi với người Giu-đa, như chính mình quan biết rõ ràng.
11Kai mah ni duek han khoek to zaehaih ka sak nahaeloe, duek han kang aek mak ai: toe nihcae mah ang net o ih zaehaih loe amsoem ai nahaeloe, kai hae mi mah doeh nihcae khaeah paek han om ai, Caesar khaeah ka caeh han, tiah a naa.
11Ví bằng tôi có tội hay là phạm điều gì đáng chết, thì tôi chẳng từ chối chết đâu; trái lại, nếu trong đơn từ họ kiện tôi không có cớ gì hết, thì chẳng ai được nộp tôi cho họ. Tôi kêu nài sự đó đến Sê-sa.
12Festa mah, Lokcaek kaminawk hoi angdueng o pacoengah, Caesar khaeah ka caeh han na tih pongah, Caesar khaeah na caeh tih, tiah a naa.
12Kế đó, Phê-tu bàn tán với công hội mình, bèn trả lời rằng: Ngươi đã kêu nài Sê-sa, chắc sẽ đến nơi Sê-sa.
13Akra ai naah Agrippa siangpahrang hoi Bernice loe, Festa bansin hanah Caesarea ah caeh hoi.
13Cách đó mấy ngày, vua Aïc-ríp-ba với Bê-rê-nít đến thành Sê-sa-rê đặng chào Phê-tu.
14Ni paroeai a cam hoi boeh pongah, Festa mah Pawl kawng to siangpahrang khaeah, Haeah Filix mah caehtaak ih thongim krah kami maeto oh, tiah thuih pae:
14Vì hai người ở lại đó mấy ngày, nên Phê-tu đem vụ Phao-lô trình với vua, rằng: Đây có một tên tù mà Phê-lít đã để lại.
15Jerusalem ah ka caeh naah, kalen koek qaima hoi kacoehtanawk mah, anih kawng to ang thuih o moe, anih to zae net hanah ang hnik o.
15Lúc tôi ở thành Giê-ru-sa-lem, các thầy tế lễ cả và các trưởng lão dân Giu-đa đến kiện người và xin tôi làm án người đi.
16Kai mah, Kami maeto loe anih zae net kami hoiah mikhmai ang hnuk moe, a net ih zaehaih to pathim ai ah loe, mi kawbaktih doeh paduek han minawk banah paek hae, Rom kaminawk ih daan na ai ni.
16Tôi đáp lại rằng người Rô-ma chẳng có lệ giải nộp một người nào mà bên bị cáo chưa đối nại với bên tiên cáo, và người đó chưa có cách thế để chống cãi lời kiện cáo mình.
17To pongah nihcae kai khaeah angzoh o naah akra ai, khawnbangah lokcaekhaih ahmuen ah kang hnut moe, to kami to ka kawksak.
17Họ bèn đến đây, thì vừa ngày sau, tôi ra ngồi nơi tòa án, không trễ nải mà truyền dẫn người ấy đến.
18Anih zae net kaminawk angdoet o moe, zae net o naah, hmaloe ah ka poek ih baktiah zae nethaih to om ai:
18Các người tiên cáo đều đã có mặt, song không kiện nó về một tội gì như tôi đã dè chừng.
19angmacae bokhaih bang hoi kasaeng hmuen hoi kadueh tangcae, Jesu loe hing let boeh, tiah Pawl mah thuih pongah, anih to zaehaih net o.
19Chỉ cáo nó về đạo riêng của họ, và một tên Jêsus đã chết kia, mà Phao-lô quyết rằng còn sống.
20To baktih lok angaekhaihnawk to kawbangmaw ka thuih han, tiah ka panoek ai pongah, lokcaek hanah Jerusalem ah caeh han na koeh maw, tiah lok ka dueng.
20Trong sự cãi lẫy đó, tôi không biết theo bên nào, nên hỏi Phao-lô muốn đi đến thành Giê-ru-sa-lem, để chịu xử mọi điều ấy tại nơi đó chăng.
21Toe Pawl mah Augustus ih lok takroekhaih to a hnik pongah, Caesar khaeah caeh ai na thung anih to kahoihah khetzawn hanah lok ka paek, tiah a naa.
21Nhưng nó đã kêu nài để việc kiện mình lại cho hoàng đế phân xử. Vậy tôi đã truyền giam nó trong ngục đợi tới khi tôi giải cho Sê-sa.
22To naah Agrippa mah Festa khaeah, Anih ih lok to kaimah roe thaih han ka koeh toeng, tiah a naa. To naah anih mah khawnbangah tahngai ah, tiah a naa.
22Aïc-ríp-ba bèn nói với Phê-tu rằng: Ta cũng muốn nghe người ấy. Phê-tu tâu rằng: Đến mai vua sẽ nghe.
23Khawnbang phak naah, Agrippa hoi Bernice loe khukbuen amthoep hoi moe, misatuh angraengnawk, avang zaehoikungnawk hoi nawnto lokcaekhaih imthung ah akun, to naah Festa mah Pawl to hoih hanah lokpaek.
23Vậy, qua bữa sau, vua Aïc-ríp-ba với Bê-rê-nít đến cách long trọng, vào phòng xử kiện với quan quản cơ và các người tôn trưởng trong thành. Phê tu bèn truyền lịnh điệu Phao-lô đến.
24Festa mah, Agrippa siangpahrang hoi haeah kaom kaminawk boih, hae kami hae khen oh, Jerusalem hoi haeah kaom Judahnawk boih mah, hae kami kawng kai khaeah ang thuih o, hae kami loe hing han om ai, tiah a hang o.
24Đoạn, Phê-tu rằng: Tâu vua Aïc-ríp-ba và hết thảy các ông có mặt tại đây, các ông đều thấy người nầy, vì cớ nó nên thay thảy dân chúng Giu-đa đến nài xin ơn tôi, tại thành Giê-ru-sa-lem và tôi đây cũng vậy, mà kêu lên rằng chẳng khá để cho nó sống nữa.
25Anih loe duek han khoek to zaehaih om ai, tito ka panoek, toe anih mah Augustus khaeah caeh han hnik baktih toengah, anih to nang khae patoeh hanah lok ka khaeh.
25Phần tôi, đã xét nó chẳng có làm điều gì đáng tội chết; và vì chính nó cũng đã kêu nài việc đó đến Sê-sa, nên tôi định giải nộp cho Sê-sa.
26Toe anih kawng hae kaimah ih siangpahrang khaeah ka tarik pae ai vop. Anih lok na caek o pacoengah ni, ca ka tarik thai vop tih. To pongah nangcae hma hoi siangpahrang Agrippa hma ah, anih to kang hoih o.
26Nhưng vì tôi không có điều chi quả quyết để làm sớ tâu hoàng đế về việc nó, nên đòi nó đến trước mặt các ông, nhất là trước mặt vua, là Aïc-ríp-ba, đặng khi tra hỏi rồi, tôi có điều để viết sớ.
27Thongim krah kami maeto zae nethaih om ai ah prae ukkung khaeah patoeh han om ai, tiah poekhaih ka tawnh, tiah a naa.
27Vả, tôi nghĩ rằng giải một tên phạm mà chẳng nói rõ điều người ta kiện nó, thì là trái lẽ lắm.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.