Toksahkungnawk 18
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To pacoengah Pawl loe Athen vangpui hoiah tacawt moe, Korin vangpui ah caeh:
1Rồi đó, Phao-lô đi khỏi thành A-thên, mà tới thành Cô-rinh-tô.
2Judah kami Pontius ah tapen Aquila to a hnuk; Klaudia mah Judahnawk boih Rom vangpui hoiah haek pongah, anih loe a zu Priscilla hoi nawnto Italy prae hoiah angzoh; Paul loe nihnik hnuk hanah caeh.
2Tại đó, người gặp một người Giu-đa, tên là A-qui-la, quê ở xứ Bông, mới từ nước Y-ta-li đến đây với vợ mình là Bê-rít-sin, bởi vì vua Cơ-lốt có chỉ truyền mọi người Giu-đa phải lánh khỏi thành Rô-ma; Phao-lô bèn hiệp với hai người.
3Nihnik loe Paul baktiah im sakhaih kahni hui kami ah oh hoi pongah, Paul loe nihnik khaeah oh moe, toksak.
3Vì đồng nghề, nên Phao-lô ở nhà hai người mà làm việc chung nhau; vả, nghề các người đó là may trại.
4Anih loe Sabbath ni kruek sineko ah caeh moe, Sithaw lok to thuih, Judahnawk hoi Griknawk pazawk thai hanah a pacae.
4Hễ đến ngày Sa-bát, thì Phao-lô giảng luận trong nhà hội, khuyên dỗ người Giu-đa và người Gờ-réc.
5Silas hoi Timote Macedonia ah angzoh hoi naah, Pawl mah Judahnawk khaeah Jesu loe Kri boeh ni, tiah thuih hanah, Muithla mah patoeh.
5Khi Si-la và Ti-mô-thê từ xứ Ma-xê-đoan đến, thì Phao-lô hết lòng chuyên lo về sự giảng dạy, làm chứng với người Giu-đa rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ.
6Toe Judahnawk mah Pawl to aek o moe, ahmin kasae thuih o pongah, nihcae to kahni takhoek thuih moe, nangmacae ih athii loe nangmacae lu nuiah krah nasoe; kai loe ka ciim boeh, vaihi hoi kamtong Gentelnawk khaeah ni ka caeh han boeh, tiah a naa.
6Nhưng, vì chúng chống cự và khinh dể người, nên người giũ áo mình mà nói rằng: Ước gì máu các ngươi đổ lại trên đầu các ngươi! Còn ta thì tinh sạch; từ đây, ta sẽ đi đến cùng người ngoại.
7Anih mah to ahmuen tacawt taak pacoengah, Justa, tiah ahmin kaom kami maeto im ah akunh, anih loe Sithaw bok kami ah oh, a im loe sineko hoi anghnai daek.
7Phao-lô ra khỏi đó, vào nhà một người tên là Ti-ti-u Giút-tu, là kẻ kính sợ Đức Chúa Trời, nhà người giáp với nhà hội.
8To pacoengah Sineko khenzawnkung Krispa loe, angmah ih imthung takoh boih hoi Angraeng to tang o, lok tahngai paroeai Korin kaminawk mah doeh tang o moe, tuinuemhaih to hnuk o.
8Bấy giờ Cơ-rít-bu, chủ nhà hội, với cả nhà mình đều tin Chúa; lại có nhiều người Cô-rinh-tô từng nghe Phao-lô giảng, cũng tin và chịu phép báp-tem.
9Khoving ah Sithaw mah hnuksakhaih hoiah Pawl khaeah lokthuih pae, zii hmah, anghak ai ah lok to thui ah:
9Ban đêm, Chúa phán cùng Phao-lô trong sự hiện thấy rằng: Đừng sợ chi; song hãy nói và chớ làm thinh;
10nang hoi nawnto Ka oh pongah, mi mah doeh nganbawh kana na paek mak ai, hae vangpui thungah pop parai kami ka tawnh, tiah a naa.
10ta ở cùng ngươi, chẳng ai tra tay trên ngươi đặng làm hại đâu; vì ta có nhiều người trong thành nầy.
11Anih loe to vangpui ah saning to pacoeng, khrah tarukto oh moe, vangpui kaminawk khaeah Sithaw lok to patuk.
11Phao-lô ở lại đó một năm sáu tháng, dạy đạo Đức Chúa Trời trong đám họ.
12Akaia prae ukkung Gallio oh nathuem ah, Judahnawk mah poek maeto amhonghaih hoiah Pawl to hmang o moe, lokcaekhaih ahmuen ah caeh o haih.
12Lúc Ga-li-ôn đang làm quan trấn thủ xứ A-chai, người Giu-đa đồng lòng nổi lên nghịch cùng Phao-lô và kéo người đến tòa án,
13Hae kami loe daan hoi kadue ai Sithaw boksak hanah kaminawk to zoek, tiah a naa o.
13mà nói rằng: Người nầy xui dân thờ Đức Chúa Trời một cách trái luật pháp.
14Pawl mah lokthuih han amsak naah, Gallio mah Judahnawk khaeah, Nangcae Judahnawk, kahoih ai hmuen hoi sakpazae moenghaih hmuen kawng thuih han ih nahaeloe na lok kang tahngaih pae o han:
14Phao-lô vừa toan mở miệng trả lời, thì Ga-li-ôn nói cùng dân Giu-đa rằng: Hỡi người Giu-đa, giá như về nỗi trái phép hay tội lỗi gì, thì theo lẽ phải, ta nên nhịn nhục nghe các ngươi.
15toe loknawk, ahminnawk hoi nangmacae ih daan kawng pongah hae kami hae kai khaeah nang hoih o nahaeloe, nangmacae mah sah o halat ah; to baktih hmuen kawng pongah lokcaek han ka koeh ai, tiah a naa.
15Song nếu biện luận về đạo lý, danh hiệu, hay là luật pháp riêng của các ngươi, thì hãy tự xử lấy; ta chẳng khứng xử đoán những việc đó đâu.
16Nihcae to lokcaekhaih ahmuen hoiah tacawtsak.
16Người bèn đuổi chúng ra khỏi tòa án.
17To naah Grik kaminawk boih mah sineko khenzawnkung, Sosthen to hmang o lat moe, anih to lokcaekhaih ahmuen hma ah boh o. Toe Gallio mah to tiah kaom hmuennawk to tiah dawncang pae ai.
17Bấy giờ, chúng bắt Sốt-then, chủ nhà hội, đánh đòn trước tòa án, nhưng Ga-li-ôn chẳng lo đến việc đó.
18Pawl loe to ahmuen ah nawnetta cam pacoengah, nawkamyanawk to caehtaak, Syria ah palong hoi a caeh, Priscilla hoi Aquila doeh anih hoi nawnto caeh hoi toeng; lokkam tangcae baktih toengah, Cenkhrea vangpui phak naah loe anih mah sam to aah.
18Phao-lô ở lại thành Cô-rinh-tô ít lâu nữa, rồi từ giã anh em, xuống thuyền đi với Bê-rít-sin và A-qui-la qua xứ Sy-ri, sau khi đã chịu cạo đầu tại thành Sen-cơ-rê, vì người có lời thề nguyện.
19Efisa vangpui phak o naah loe, anih mah Priscilla hoi Aquila to caehtaak: angmah loe sineko thungah akun moe, Judahnawk hoi Sithaw lok aram o.
19Kế đó, ba người tới thành Ê-phê-sô, Phao-lô để đồng bạn mình lại đó. Còn người, thì vào nhà hội, nói chuyện với những người Giu-đa;
20Nihcae khaeah kasawkah cam pae hanah a hnik o, toe anih mah angmak pae;
20song khi chúng xin ở lại lâu hơn nữa, thì người chẳng khứng.
21toe anih mah, Vaihi sak han ih poih loe Jerusalem ah ka patoh han, Sithaw mah araem tih nahaeloe nangcae khaeah kang zoh let han hmang, tiah a naa. To pacoengah tui lam hoiah Efisa vangpui ah a caeh.
21Người từ giã các người đó mà rằng: Ví Đức Chúa Trời khứng, thì chuyến khác ta sẽ đến nơi các ngươi; rồi người từ thành Ê-phê-sô mà đi.
22Sisaria vangpui a phak naah, anih loe caeh tahang moe, kricaabunawk to ban sinh, to pacoengah Antiok vangpui ah caeh tathuk.
22Khi đổ bộ tại thành Sê-sa-rê rồi, người đi lên thành Giê-ru-sa-lem, chào mừng Hội thánh, đoạn lại xuống thành An-ti-ốt.
23To vangpui ah ni nazetto maw oh pacoengah, Galatia hoi Phrygia prae thung ih ahmuen maeto pacoeng maeto ah caeh moe, hnukbang kaminawk khaeah thapaekhaih lok a thuih pae.
23Người ở đó ít lâu, rồi lại đi, trải lần lần khắp trong xứ Ga-la-ti và xứ Phi-ri-gi, làm cho hết thảy môn đồ đều vững lòng.
24Alexandria vangpui ah tapen, Apollo, tiah ahmin kaom Judah kami maeto, Efisa ah angzoh, anih loe lokthuih kop moe, Cabu thung ih lok panoekhaih bangah thacak kami ah oh.
24Bấy giờ có một người Giu-đa tên là A-bô-lô, quê tại thành A-léc-xan-tri, là tay khéo nói và hiểu Kinh Thánh, đến thành Ê-phê-sô.
25Anih loe Angraeng ih loklam amtuk kami ah oh; anih loe Johan tuinuemhaih khue ni panoek vop, toe muithla ah thacak pongah Angraeng Sithaw ih lok to palung tang hoi a thuih moe, patuk.
25Người đã học đạo Chúa; nên lấy lòng rất sốt sắng mà giảng và dạy kĩ càng những điều về Đức Chúa Jêsus, dẫu người chỉ biết phép báp-tem của Giăng mà thôi.
26Anih loe misahoihhaih hoiah sineko ah lokthuih: a thuih ih lok to Priscilla hoi Aquila mah thaih naah, anih to im ah a kawk hoi moe, Sithaw ih loklam to kakoep ah thuih pae hoi.
26Vậy, người khởi sự giảng cách dạn-dĩ trong nhà hội. Bê-rít-sin và A-qui-la nghe giảng, bèn đem người về với mình, giải bày đạo Đức Chúa Trời cho càng kĩ lưỡng hơn nữa.
27Apollo loe Akaia prae ah caeh han amsak, to naah toah kaom hnukbang kaminawk mah anih to talawk o hanah, nawkamyanawk mah ca tarik pae o: anih Akaia phak naah Sitawh tahmenhaih rang hoiah tanghaih tawn kaminawk a bomh:
27Người toan sang xứ A-chai, thì anh em giục lòng cho và viết thơ gởi dặn môn đồ phải tiếp đãi người tử tế. Khi tới rồi, người được nhờ ơn Đức Chúa Trời mà bổ ích cho kẻ đã tin theo.
28anih mah rangpui hma ah Judah kaminawk hoi lok angaekhaih to pazawk moe, Jesu loe Kri ni, tiah Cabu rang hoiah kamnoek ah a hnuksak.
28Vì người hết sức bẻ bác người Giu-đa giữa thiên hạ, lấy Kinh Thánh mà bày tỏ rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.