Toksahkungnawk 27
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Italy prae ah palong hoi caeh han kam sak o pacoengah, Pawl hoi thongkrah thoemto kaminawk to, Augusta ih misatuh cumvaito ukkung, Julia khaeah aap o.
1Khi đã định rằng chúng ta phải đi đàng biển qua nước Y-ta-li, họ bèn giao Phao-lô và mấy tên phạm khác cho một thầy đội tên là Giu-lơ, về đội quân Aâu-gu ta.
2Adramyttium palongpui to kang thueng o moe, Asia prae tuipui taengah kaom avangnawk ah caeh han ka poek o; Aristarka, tiah ahmin kaom Macedonoia prae, Thessalonika vangpui ih kami maeto doeh kaicae hoi nawnto oh.
2Chúng ta xuống một chiếc tàu ở A-tra-mít phải trảy đi dọc bờ biển A-si, đoạn thì ra đi. A-ri-tạc, là người Ma-xê-đoan, về thành Tê-sa-lô-ni-ca, cùng đi với chúng ta.
3Khawnbangah loe Sidon vangpui ah kang hak o. Angaihaih hmuennawk sakthaih hanah, Julia mah Pawl to angmah ih ampuinawk khaeah caehsak.
3Đến ngày sau, chúng ta tới thành Si-đôn, thì Giu-lơ đãi Phao-lô cách nhân từ, cho phép người đi thăm bạn hữu mình, và được họ lo việc mình.
4To ahmuen hoiah kam sak o, takhi song pongah Cyprus prae aloih bang hoiah ka caeh o.
4Đoạn, từ nơi đó, chúng ta theo mé bờ đảo Chíp-rơ, vì bấy giờ ngược gió.
5Cilicia hoi Pamphylia tuipui to ka poeng o moe, Lycia prae Myra vangpui ah kang hak o.
5Sau khi vượt qua biển Si-li-si và Bam-phi-ly, thì chúng ta đến thành My-ra, trong xứ Ly-si.
6To vangpui ah misatuh cumvaito ukkung mah Italy prae ah kacaeh Alexandria palongpui to hnuk, to palongpui to kang thueng o roep.
6ỳ đó, thầy đội thấy có một chiếc tàu ở A-léc-xan-tri sẽ đi qua Y-ta-li, bèn cho chúng ta xuống tàu đó.
7Ni nazetto thung maw amzaita hoi ka caeh o pacoengah, paroeai raihaih hoiah Cnidus to ka phak o, takhi mah pakaa han ai ah, Salmone vangpui zaeh ah kaom Krete prae bangah ka caeh o;
7Tàu chạy chậm lắm, mất nhiều ngày khó nhọc mới tới ngang thành Cơ-nít. Vì gió quá, tàu không thể ghé bến được, nên chúng ta lại theo mé bờ đảo Cơ-rết, qua Sa-môn.
8Paroeai raihaih hoiah to ahmuen to ka poeng o moe, Lasea vangpui taengah kaom Fair, tiah ahmin kaom palongpui anghakhaih ahmuen to ka phak o.
8Khi đã chịu khó đi dọc theo nơi đó, chúng ta mới đến một nơi gọi là Mỹ-Cảng, gần thành La-sê.
9Ni paroeai ka patoh o boeh moe, buhzahhaih atue doeh boeng boeh, toe palongpui hoi kholong caeh han zit thoh, tiah Pawl mah panoek naah, nihcae khaeah,
9Trải lâu ngày, tàu chạy phải nguy hiểm (vì kỳ Kiêng ăn đã qua rồi), Phao-lô bảo trước cho những người trong tàu,
10Nawkamyanawk, Vaihi tuilam hoi kholong a caeh o hanah paroeai zit thoh, palongpui amro moe, hmuenmaenawk anghmat han ih khue ai, aimacae hinghaih khoek to raihaih paek tih, tiah poekhaih paek.
10rằng: Tôi thấy sự vượt biển nầy chắc sẽ phải nguy hiểm và hư hại, chẳng những cho hàng hóa và chiếc tàu mà thôi, lại đến thân chúng ta nữa.
11Toe misatuh cumvaito ukkung loe Pawl mah thuih ih lok pongah, palong mongh kami hoi palong tawnkung mah thuih ih lok to tahngaih lat.
11Nhưng thầy đội tin lời người lái tàu và chủ tàu hơn là lời Phao-lô nói.
12Siktue thung to palong anghakhaih ahmuen ah oh han hoih ai pongah, kapop kaminawk mah loe caeh poe han a koeh o, Phoenix to phak moe, toah siktue thung oh han a koeh o; to palongpui anghakhaih ahmuen loe Krete prae thungah oh, niduem aluek bang hoi niduem aloih bangah anghae.
12Vì cảng đó không tiện cho tàu đậu lúc mùa đông, nên phần nhiều người đều bàn rằng phải lìa khỏi đó và ráng sức đến cảng Phê-nít, là cảng của đảo Cơ-rết, hướng phía tây nam và phía tây bắc, đặng qua mùa đông ở đó.
13Aloih bang ih takhi amzaita hoi song naah loe, a koeh o ih baktiah om tih hmang, tiah poekhaih a tawnh o pongah, palongpui paehhaih qui to a khramh o moe, Krete tuipui taeng hoiah a caeh o.
13Vừa có gió nam non bắt đầu thổi, họ tưởng rằng có thể tới nơi mình đã định, thì kéo neo mà đi dọc theo gần đảo Cơ-rết.
14Akra ai ah Euroclydon, tiah kawk ih takhisae to songh.
14Nhưng cách ít lâu có trận gió dữ tợn gọi là gió Ơ-ra-qui-lôn thổi lên vật vào đảo.
15Takhi kaham mah palongpui to hmuh pongah, hmabang ah ka caeh o thai ai boeh; to naah palongpui to ka prawt o sut moe, angmah koeh baktiah takhi mah hmuh.
15Tàu đã phải bạt đi, chống lại gió chẳng nổi, nên chúng ta để mặc cho theo chiều gió.
16Klauda, tiah kawk ih tui mah takui ih prae ah ka cawnh o, palong tetta amro ving han ai ah rai parai ah ka caeh o:
16Tàu bị bạt đến dưới một hòn đảo nhỏ kia gọi là Cơ-lô-đa, chúng ta khó nhọc lắm mới cầm được chiếc thuyền.
17to palong ta to palongpui nuiah azuh o tahang moe, palongpui nuiah kacakah qui hoi a paeh o; savuet nuiah angtang moeng tih, tiah zit o pongah, payang ih kahni to a khramh o ving, to pongah ni takhi mah palong to koeh thaithue hmuh.
17Sau khi trục lên, họ dùng phương thế làm cho chắc chắn: lấy dây ràng phía dưới chiếc tàu lại; đoạn lại sợ mắc cạn trên bãi Si-rơ-tơ, thì hạ buồm xuống, để mặc gió đưa trôi đi.
18Takhi sae hoi tuiphu tha oh hmoek pongah, khawnbangah loe palongpui anghoep kue hanah kazit hmuennawk to a vah o.
18Đến ngày mai, vì bão cứ thổi cũng mạnh như vậy luôn, họ bèn quăng hàng hóa xuống biển.
19Ni thumto naah loe kaimacae ban hoi roe palongpui thung ih hmuennawk to ka vah o.
19Ngày thứ ba, chúng ta dùng chính tay mình quăng đồ đạc trong tàu xuống biển.
20Ni paroeai thung ni hoi cakaehnawk to amtueng ai, takhi sae song aep aep pongah ka loih o tih, tiah poekhaih roe om ai boeh.
20Trong mấy ngày, mặt trời chẳng có, ngôi sao cũng không, mà bão thì vẫn thổi ào ào luôn, đến nỗi chúng ta chẳng còn trông cậy được cứu nữa.
21Buh caa ai ah ni nazetto maw ka oh o pacoengah, Pawl mah nihcae hma ah angdoet moe, Nawkamyanawk, ka lok na tahngaih o moe, tui mah takui ih Krete prae hoiah a caeh o ai nahaeloe, hae baktih patangkhanghaih hoi raihaih hae a tongh o mak ai.
21Vì họ không ăn đã lâu, nên Phao-lô đứng dậy giữa đám họ, mà nói rằng: Hỡi bạn hữu ta, chớ chi bữa trước tin lời ta mà chẳng dời khỏi đảo Cơ-rết, thì chúng ta đã chẳng mắc cơn nguy hiểm và tổn hại nầy.
22Toe vaihi loe kamongah om oh: palongpui khue ni amro tih, kami hinghaih loe amro mak ai.
22Nhưng bây giờ, ta khuyên các ngươi hãy vững lòng; trong các ngươi chẳng mất ai hết, chỉ mất chiếc tàu mà thôi.
23Cangduem qum ah, kai tawnkung, a tok ka sak pae ih, Sithaw ih van kami kai khaeah amtueng moe,
23Vì đêm nay, một thiên sứ của Đức Chúa Trời, là Đấng ta thuộc về và hầu việc, có hiện đến cùng ta mà phán rằng:
24Pawl, zii hmah; Caesar hma ah na hoi o tih: khenah, nang hoi nawnto palongpui thungah kholong caeh kaminawk to Sithaw mah nang hanah paek boih boeh, tiah ang naa.
24Hỡi Phao-lô, đừng sợ chi hết; ngươi phải ứng hầu trước mặt Sê-sa; và nầy, Đức Chúa Trời đã ban cho ngươi hết thảy những kẻ cùng đi biển với ngươi.
25To pongah nawkamyanawk, poek nawmhaih hoiah om oh: kai khaeah ang thuih ih lok baktih toengah om tih, tiah Sithaw tanghaih ka tawnh, tiah a naa.
25Vậy, hỡi các ông, hãy vững lòng, vì ta có lòng tin cậy Đức Chúa Trời rằng sẽ xảy ra như lời Ngài đã phán vậy;
26Kawbangah doeh tui mah takui ih prae maeto ah loe palongpui hae angtang zoezah tih, tiah a naa.
26nhưng chúng ta chắc sẽ bị tấp lên một hòn đảo nào.
27Ni hatlai palito qum ka phak o moe, Andria tuipui thungah ka caeh o, qum taning ah palong mongh kaminawk mah prae maeto phak tom boeh, tiah a poek o;
27Đã đến đêm thứ mười bốn mà chúng ta cứ trôi nổi trên biển A-đờ-ria-tích, lúc nửa đêm, các bạn tàu ngờ đang đến gần một đất nào.
28tui to a tah o naah lam pumphae to thuk: nawnetta a caeh o moe, tah o let naah loe lam hatlai pangato thuk.
28Họ thả trái dò xuống, thì thấy sâu hai chục sải; hơi xa một ít, lại thả nữa, thì thấy mười lăm sải.
29Thlung daeng moeng tih, tiah a zit o pongah, taai khok baktih kaom sum kazit palito tui thungah pakhrak o moe, lawkthuihaih hoiah khodai to a zing o.
29Bấy giờ, sợ đụng rạn, họ bèn từ trên đầu lái tàu quăng bốn neo xuống, và ước ao đến sáng.
30Palongpui mongh kaminawk loe palongpui to caehtaak hanah, palongpui hma ah a caeh o, sum kazit tui thungah pakhrah kami baktiah angsak o moe, palongpui nui ih palong tetta to tuipui thungah pakhrak o tathuk, to tiah a sak o li naah,
30Nhưng vì bạn tàu tìm phương lánh khỏi chiếc tàu và thả chiếc tam bản xuống biển, giả đò đi thả neo đằng trước mũi,
31Pawl mah misatuh cumvaito ukkung hoi misatuh kaminawk khaeah, Hae kaminawk palongpui thungah om o ai nahaeloe, na loih o thai mak ai boeh, tiah a naa.
31thì Phao-lô nói với thầy đội và lính rằng: Nếu những người nầy chẳng cứ ở trong tàu, thì các ông chẳng được cứu.
32To pacoengah misatuh kaminawk mah palong paehhaih qui to aah o moe, palong to tui thungah pakhrak o.
32Bọn lính bèn cắt dây buộc tam bản, làm cho rớt xuống.
33Khodai tom naah loe, Pawl mah nihcae boih buhcaak o hanah thuih pae, Vaihni loe buhcaa ai ah na oh o haih ni hatlai palito phak boeh.
33Đoạn, trong khi đợi trời sáng, Phao-lô khuyên ai nấy hãy ăn. Người nói: Hôm nay là ngày thứ mười bốn mà các ngươi đang trông đợi, nhịn đói chẳng ăn chút nào.
34To pongah buhcaa o lai ah: ngan na tui o thai hanah buh to caa oh: nangcae lu nui ih sam maeto mataeng doeh angmuen mak ai, tiah a naa.
34Vậy, ta khuyên các ngươi hãy ăn, vì thật là rất cần cho sự cứu của các ngươi, và chẳng ai trong vòng các ngươi sẽ mất một sợi tóc trên đầu mình.
35Lok a thuih pacoengah, takaw to a lak moe, nihcae boih hma ah Sithaw khaeah lawkthuih; to pacoengah takaw to a aeh moe, a caak.
35Nói như vậy rồi, người bèn lấy bánh, đứng trước mặt mọi người, tạ ơn Đức Chúa Trời rồi, thì bẻ ra và ăn.
36To naah nihcae mah poeknawmhaih hoiah takaw to caak o boih.
36Bấy giờ ai nấy đều giục lòng, và ăn.
37Palongpui thungah angthueng kaminawk loe sangqum boih ah cumvai hnet, quisarih, tarukto ka oh o.
37Vả, số chúng ta hết thảy ở trong tàu được hai trăm bảy mươi sáu người.
38Buhcaak boep o pacoengah palongpui anghoep kue hanah, cangni to tuipui thungah a vah o.
38Họ đã ăn vừa no nê, bèn quăng đồ lương thực xuống biển, làm cho nhẹ tàu đi.
39Khodai naah loe nihcae mah saoeng to hnuk o, toe to ahmuen to panoek o ai; palongpui anghakhaih ahmuen to hnuk o naah, angcoeng thai nahaeloe toah palongpui anghaksak han poekhaih a tawnh o.
39Đến sáng ngày, họ chẳng nhận biết là đất nào, nhưng thấy có cái vịnh và bờ, bèn định đỗ tàu đó mà núp xem có thể được chăng.
40Takhi mah palong to tuicing bangah thaak hanah, nihcae mah taai khok baktih kaom sum kazit to tuipui thungah pakhrak o moe, palong thoekhaih ahmuen ah paeh ih quinawk to khramh o pacoengah, payang ih kahni doeh a khramh o.
40Vậy, họ dứt dây bỏ neo xuống biển, tháo dây bánh lái; đoạn, xổ buồm sau lái thuận theo gió, tìm lối chạy vào bờ.
41Tuipui angqumhaih ahmuen phak naah loe, palongpui mah long to daeng; palongpui tahmawh to savuet pongah angtang caeng, to pongah palongpui loe caeh thai ai boeh, kaham tuiphu tha mah palongpui ahnuk bang to amrosak.
41Song chạy nhầm chỗ hai ngọn nước biển xáp nhau, thì họ làm cho tàu bị cạn tại đó; đầu mũi cắm xuống không động đậy được, còn đầu lái bị sóng đánh dữ lắm nên nát hết.
42To naah thongkrah kaminawk mah tui alaek o ueloe, cawn o ving moeng tih, tiah misatuh kaminawk mah poek o pongah, nihcae to hum hanah a poek o.
42Bấy giờ quân lính bàn định giết các tù phạm, e có người nào trong bọn họ lội thoát khỏi chăng.
43Toe misatuh cumvaito ukkung mah loe Pawl to pahlong hanah koeh, to pongah nihcae poekhaih to anih mah pakaa pae; tui alaek thaih kami loe palongpui thung hoi tuipui thungah lungpung o moe, tuicing bangah alaek o hanah anih mah lokpaek:
43nhưng thầy đội muốn cứu Phao-lô, nên ngăn trở nghị định đó. Người truyền cho ai biết lội thì nhảy xuống nước trước đi mà lội vào bờ,
44kanghmat thoemto kaminawk khaeah, palongpui nuiah om oh, tiah a naa, thoemto kaminawk khaeah loe kamro palong thingphaek nuiah oh o hanah lok a paek. Hnukkhuem ah, nihcae loe loih o moe, tuicing bangah phak o boih.
44và truyền cho những kẻ còn lại, người thì cỡi trên ván, kẻ thì cỡi trên miếng vách nát của chiếc tàu. Thế là ai nấy đều được lên bờ vô sự vậy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.