Иеремия 49
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptTranslation
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Асупра копиилор луй Амон. Аша ворбеште Домнул: „Н-аре Исраел фий? Ши н-аре моштениторь? Атунч пентру че стэпынеште Малком Гадул ши локуеште попорул луй ын четэциле луй?
1Về con cái Am-môn. Đức Giê-hô-va phán như vầy: Y-sơ-ra-ên há chẳng có con trai sao? há chẳng có con kế tự sao? Vì sao Minh-côm được lấy đất Gát làm cơ nghiệp, dân nó ở trong các thành của Gát?
2Де ачея, ятэ кэ вин зиле”, зиче Домнул, „кынд вой фаче сэ рэсуне стригэтул де рэзбой ымпотрива Рабей копиилор луй Амон. Еа ва ажунӂе ун морман де дэрымэтурь, ши сателе сале вор фи арсе де фок. Атунч, Исраел ва изгони пе чей че-л изгонисерэ”, зиче Домнул.
2Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ làm cho tiếng kêu về giặc giã vang ra nghịch cùng Ráp-bát, tức thành của con cái Am-môn, nó sẽ trở nên một đống đổ nát; các con gái nó sẽ bị lửa đốt cháy, bấy giờ Y-sơ-ra-ên sẽ chiếm lấy những kẻ đã chiếm lấy mình, Đức Giê-hô-va phán vậy.
3„Ӂемь, Хесбонуле, кэч Ай есте пустиит! Стригаць, фийчеле Рабей, ымбрэкаци-вэ ку сачь ши бочици-вэ, алергынд ынкоаче ши ынколо де-а лунгул зидурилор! Кэч Малком се дуче ын робие ку преоций ши кэпетенииле сале!
3Hỡi Hết-bôn, hãy than khóc, vì A-hi đã bị cướp phá! Hỡi con gái Ráp-bát, hãy kêu la; hãy mang bao gai, chạy đi chạy lại giữa các hàng rào mà than khóc! Vì Minh-côm sẽ đi làm phu tù cùng các thầy tế lễ và các quan trưởng mình.
4Че те лаузь ку вэиле? Валя та се скурӂе, фийкэ рэзврэтитэ, каре те ынкредяй ын вистиерииле тале ши зичяй: ‘Чине ва вени ымпотрива мя?’
4Hỡi con gái bội nghịch kia, sao khoe mình về các nơi trũng ngươi, về nơi trũng màu mỡ ngươi? Ngươi tin cậy ở của báu mình, và nói rằng: Ai đến được cùng ta?
5Ятэ, вой адуче гроаза песте тине”, зиче Домнул Думнезеул оштирилор; „еа ва вени дин тоате ымпрежуримиле тале, фиекаре дин вой ва фи изгонит дрепт ынаинте, ши нимень ну ва стрынӂе пе фугарь!
5Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, phán: Nầy, ta sẽ khiến sự kinh hãi từ mọi nơi chung quanh ngươi đến cùng ngươi; mỗi người trong các ngươi sẽ bị đuổi và chạy thẳng, chẳng ai sẽ thâu nhóm những người đi trốn.
6Дар, дупэ ачея, вой адуче ынапой пе принший де рэзбой ай копиилор луй Амон”, зиче Домнул.
6Nhưng về sau ta sẽ đem các con cái Am-môn bị phu tù trở về, Đức Giê-hô-va phán vậy.
7Асупра Едомулуй. Аша ворбеште Домнул оштирилор: „Ну май есте ынцелепчуне ын Теман? А перит кибзуинца де ла оамений причепуць? С-а дус ынцелепчуня лор?
7Về Ê-đôm. Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Trong Thê-man há không còn có sự khôn ngoan sao? Những người khôn đã dứt mưu luận của mình sao? Sự khôn ngoan của họ đã mất rồi sao?
8Фуӂиць, даць досул, плекаць ын пештерь, локуиторь ай Деданулуй! Кэч вой адуче ненорочиря песте Есау ла время кынд ыл вой педепси.
8Hỡi dân cư Đê-đan, hãy trốn, xây lưng lại, đi ở trong các chỗ sâu; vì ta sẽ khiến tai vạ của Ê-sau đến trên nó, là kỳ ta sẽ thăm phạt nó.
9Оаре, дакэ ар вени ниште кулегэторь де стругурь ла тине, ну ць-ар лэса нимик де кулес пе урма кулегэторилор? Дакэ ар вени ниште хоць ноаптя, н-ар пустий декыт пынэ с-ар сэтура!
9Kẻ hái nho đến nhà ngươi, há chẳng để sót lại một ít sao? Kẻ trộm ban đêm há chẳng hủy hoại cho đến mình có đủ sao?
10Дар Еу Ынсумь вой деспуя пе Есау, ый вой дескопери аскунзэториле ши ну ва путя сэ се аскундэ. Копиий луй, фраций луй, вечиний луй вор пери, ши ел ну ва май фи!
10Nhưng ta đã bóc lột hết Ê-sau, làm cho chỗ kín nó lõa lồ ra, không thể giấu mình được. Con cháu, anh em, kẻ lân cận nó đều bị diệt, và chính mình nó không còn.
11Ласэ пе орфаний тэй! Еу ый вой цине ын вяцэ, ши вэдувеле тале сэ се ынкрядэ ын Мине!”
11Hãy bỏ những kẻ mồ côi của ngươi; chính ta sẽ giữ mạng sống chúng nó; các kẻ góa bụa của ngươi khá trông cậy ta!
12Кэч аша ворбеште Домнул: „Ятэ кэ чей че ну требуяу сэ бя потирул тотушь ыл вор бя, ши ту сэ рэмый непедепсит? Ну, ну вей рэмыне непедепсит, чи ыл вей бя ши ту!
12Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, những kẻ vốn không phải uống chén nầy, chắc sẽ uống lấy; và ngươi há khỏi hình phạt được hết sao? Ngươi sẽ không khỏi hình phạt, nhưng chắc sẽ uống chén ấy.
13Кэч пе Мине Ынсумь жур ”, зиче Домнул, „кэ Боцра ва фи датэ прадэ пустиирий, окэрий, нимичирий ши блестемулуй, ши тоате четэциле ей се вор префаче ын ниште дэрымэтурь вешниче.”
13Đức Giê-hô-va phán: Vì ta đã chỉ chính mình ta mà thề, Bốt-sa sẽ nên gở lạ và sỉ nhục, bị phá tán và rủa sả; các thành nó sẽ trở nên gò đống đời đời.
14Ам аузит о весте де ла Домнул ши ун сол а фост тримис принтре нямурь: „Стрынӂеци-вэ ши порниць ымпотрива ей! Скулаци-вэ пентру рэзбой!
14Nầy là tin mà Đức Giê-hô-va cho ta nghe, và có một sứ giả được sai đến giữa các nước: Hãy nhóm lại đi đánh nó, hãy đứng dậy mà chiến đấu!
15Кэч ятэ, те вой фаче мик принтре нямурь, диспрецуит принтре оамень.
15Vì nầy, ta đã làm ngươi nên nhỏ mọn giữa các nước, và bị khinh dể giữa người ta.
16Ынфумураря та, ынгымфаря инимий тале, те-а рэтэчит пе тине, каре локуешть ын крэпэтуриле стынчилор ши каре стай пе вырфул дялурилор. Дар, кяр дакэ ць-ай ашеза куйбул тот атыт де сус ка ал вултурулуй, ши де аколо те вой прэбуши”, зиче Домнул.
16Hỡi ngươi ở trong bộng đá lớn, choán trên đỉnh núi kia, cho mình là đáng sợ, lòng kiêu ngạo đã dối trá ngươi; dầu ngươi lót ổ mình cao như ổ chim ưng, ta cũng làm cho ngươi từ đó rớt xuống, Đức Giê-hô-va phán vậy.
17„Едомул ва фи пустиит; тоць чей че вор трече пе лынгэ ел се вор мира ши вор флуера пентру тоате рэниле луй.
17Ê-đôm sẽ nên gở lạ, mọi người đi qua sẽ lấy làm lạ; thấy tai vạ của nó, thì đều xỉ báng.
18Ка ши Содома ши Гомора ши четэциле вечине каре ау фост нимичите”, зиче Домнул, „нич ел ну ва май фи локуит ши нимень ну се ва май ашеза аколо…
18Aáy sẽ giống như sự hủy hoại của Sô-đôm, Gô-mô-rơ, và các thành lân cận, Đức Giê-hô-va phán vậy. Ê-đôm sẽ không có người ở nữa, chẳng có một con người kiều ngụ tại đó.
19Ятэ, врэжмашул се суе ка ун леу де пе малуриле ынгымфате але Йорданулуй ымпотрива локуинцей тале тарь; деодатэ вой фаче Едомул сэ фугэ де аколо ши вой пуне песте ел пе ачела пе каре л-ам алес. Кэч чине есте ка Мине? Чине-Мь ва порунчи? Чине-Мь ва ста ымпотривэ?”
19Nầy, nó như sư tử lên từ các rừng rậm rạp của Giô-đanh mà nghịch cùng chỗ ở kiên cố. Thình lình ta sẽ làm cho Ê-đôm trốn khỏi, và ta sẽ lập người mà ta đã chọn để cai trị nó: vì ai giống như ta? ai sẽ định kỳ cho ta? có kẻ chăn nào sẽ đứng trước mặt ta?
20Де ачея, аскултаць хотэрыря пе каре а луат-о Домнул ымпотрива Едомулуй ши плануриле пе каре ле-а фэкут ымпотрива локуиторилор дин Теман: „Ку адевэрат, ый вор тыры ка пе ниште ой слабе, ку адевэрат ли се ва пустий локуинца!
20Vậy hãy nghe mưu Đức Giê-hô-va đã định nghịch cùng Ê-đôm, và ý định Ngài đã lập nghịch cùng dân cư Thê-man: Thật, những con nhỏ trong bầy chúng nó sẽ bị kéo đi; nơi ở chúng nó sẽ bị làm hoang vu.
21Де вуетул кэдерий лор се кутремурэ пэмынтул; стригэтул лор се ауде пынэ ла Маря Рошие…
21Nghe tiếng chúng nó đổ xuống, đất đều chuyển động, tiếng kêu của chúng nó nghe thấu đến Biển đỏ.
22Ятэ, ка вултурул ынаинтязэ врэжмашул ши збоарэ, ышь ынтинде арипиле песте Боцра ши ын зиуа ачея инима витежилор Едомулуй есте ка инима уней фемей ын дурериле наштерий.”
22Nầy, kẻ thù bay như chim ưng, liệng và sè cánh nghịch cùng Bốt-ra. Ngày đó, lòng anh hùng Ê-đôm trở nên như lòng người đàn bà đang đẻ.
23Асупра Дамаскулуй: „Хаматул ши Арпадул сунт роший де рушине, кэч ау аузит о весте ря ши тремурэ; фрика лор есте ка о маре ынфуриятэ, каре ну се поате потоли.
23Về Đa-mách. Ha-mát và Aït-bát đều bị hổ thẹn; vì chúng nó nghe tin xấu mà tan chảy: biển đang đau đớn, không yên lặng được.
24Дамаскул есте топит, се ынтоарче сэ фугэ, ыл я гроаза, ыл апукэ нелиништя ши дурериле, ка пе о фемее ын дурериле наштерий. –
24Đa-mách đã trở nên yếu đuối, xây lại đi trốn, sự run rẩy đã bắt lấy nó: sự buồn rầu đau đớn cầm lấy nó, như đàn bà đang đẻ.
25Ах, кум ну есте круцатэ четатя слэвитэ, четатя букурией меле! –
25Vậy người ta sao chẳng bỏ thành có tiếng khen, là thành làm sự vui vẻ cho ta?
26Де ачея тинерий ей вор кэдя пе улице ши тоць бэрбаций ей де рэзбой вор пери ын зиуа ачея”, зиче Домнул оштирилор.
26Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Bởi vậy, trong ngày đó, những kẻ trai trẻ nó sẽ ngã trong các đường phố nó, mọi lính chiến sẽ phải nín lặng.
27„Вой пуне фок зидурилор Дамаскулуй ши ва мистуи каселе ымпэрэтешть дин Бен-Хадад.”
27Ta sẽ đốt lửa nơi tường thành Đa-mách, nó sẽ thiêu hủy các cung điện Bên-Ha-đát.
28Асупра Кедарулуй ши ымпэрэциилор Хацорулуй, пе каре ле-а бэтут Небукаднецар, ымпэратул Бабилонулуй. Аша ворбеште Домнул: „Скулаци-вэ, суици-вэ ымпотрива Кедарулуй ши нимичиць пе фиий Рэсэритулуй!
28Về Kê-đa và các nước ở Hát-so mà Nê-bu-cát-nết-sa vua Ba-by-lôn đã đánh. Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đứng dậy, đi đánh Kê-đa, và phá diệt các con cái phương đông.
29Ле вор луа кортуриле ши турмеле, ле вор ридика пынзеле, тот калабалыкул ши кэмилеле ши ле вор стрига: ‘Спаймэ, де жур ымпрежур!’
29Chúng nó sẽ cất lấy trại và bầy vật chúng nó, cướp lấy màn cháng, đồ lề, và lạc đà, mà kêu lên cùng chúng nó rằng: Sự kinh hãi bao bọc các ngươi tư bề!
30Фуӂиць, фуӂиць дин тоате путериле воастре, кэутаць о локуинцэ деопарте, локуиторь ай Хацорулуй”, зиче Домнул, „кэч Небукаднецар, ымпэратул Бабилонулуй, а луат о хотэрыре ымпотрива воастрэ, а фэкут ун план ымпотрива воастрэ!
30Đức Giê-hô-va phán: Hỡi dân cư Hát-so, hãy thoát mình! Hãy lánh đi xa! Hãy ở trong chỗ sâu, vì Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã toan mưu nghịch cùng các ngươi, định ý làm hại các ngươi.
31Скулаци-вэ, суици-вэ ымпотрива унуй ням лиништит, каре локуеште фэрэ тямэ”, зиче Домнул; „н-аре нич порць, нич зэвоаре ши локуеште сингур.
31Đức Giê-hô-va phán: Hãy đứng dậy, đi đánh dân ở yên ổn không lo lắng gì. Dân ấy không có cửa đóng, không có then chốt, và cũng ở một mình.
32Кэмилеле лор вор фи де жаф ши мулцимя турмелор лор вор фи о прадэ. Вой рисипи ын тоате вынтуриле пе ей, чей че-шь рад колцуриле бэрбий, ши ле вой адуче пеиря дин тоате пэрциле”, зиче Домнул.
32Những lạc đà nó sẽ làm của cướp, bầy vật đông đúc nó sẽ làm mồi. Ta sẽ làm cho những kẻ cảo râu chung quanh tan lạc khắp bốn phương; ta sẽ khiến tai vạ từ mọi nơi đến trên chúng nó, Đức Giê-hô-va phán vậy.
33„Хацорул ва фи астфел визуина шакалилор, ун пустиу пе вечие; нимень ну ва локуи ын ел ши ничун ом ну ва шедя ын ел.”
33Hát-so sẽ trở nên hang chó đồng, làm nơi hoang vu đời đời. Chẳng ai ở đó nữa, chẳng có một con người nào trú ngụ đó!
34Кувынтул Домнулуй, каре а фост спус пророкулуй Иеремия, асупра Еламулуй, ла ынчепутул домнией луй Зедекия, ымпэратул луй Иуда, сунэ астфел:
34Lúc Sê-đê-kia vua Giu-đa mới trị vì, có lời Đức Giê-hô-va phán cùng tiên tri Giê-rê-mi, về Ê-lam, rằng:
35„Аша ворбеште Домнул оштирилор: ‘Ятэ, вой сфэрыма аркул Еламулуй, путеря луй де кэпетение.
35Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Nầy, ta sẽ bẻ cung của Ê-lam, là sức mạnh thứ nhất của nó.
36Вой адуче асупра Еламулуй челе патру вынтурь де ла челе патру марӂинь але черулуй, ый вой рисипи ын тоате вынтуриле ачестя ши ну ва фи ничун попор ла каре сэ н-ажунгэ фугарь дин Елам.
36Ta sẽ khiến bốn gió từ bốn phương trời thổi đến nghịch cùng Ê-lam, sẽ làm tan lạc chúng nó đến mọi gió đó; chẳng có nước nào mà những kẻ bị đuổi của Ê-lam chẳng đến.
37Вой фаче ка локуиторий Еламулуй сэ тремуре ынаинтя врэжмашилор лор ши ынаинтя челор че вор сэ-й омоаре. Вой адуче ненорочирь песте ей, мыния Мя апринсэ’, зиче Домнул, ‘ши-й вой урмэри ку сабия пынэ че ый вой нимичи.
37Ta sẽ làm cho người Ê-lam kinh hãi trước mặt kẻ thù nghịch và kẻ đòi mạng chúng nó. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ khiến sự tai hại, tức thạnh nộ phừng phừng của ta, đổ xuống trên chúng nó; và sai gươm theo sau, cho đến chừng nào ta hủy diệt chúng nó.
38Ымь вой ашеза скаунул де домние ын Елам ши-й вой нимичи ымпэратул ши кэпетенииле’, зиче Домнул.
38Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ đặt ngai ta trong Ê-lam; vua và các quan trưởng nó, ta sẽ diệt đi.
39‘Дар ын зилеле де апой вой адуче ынапой пе принший де рэзбой ай Еламулуй’, зиче Домнул.”
39Nhưng sẽ xảy ra trong những ngày sau rốt, ta sẽ đem các phu tù của Ê-lam trở về, Đức Giê-hô-va phán vậy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.