Иеремия
Chapter 8
Cornilescu Bible (1924),…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Иеремия 8

Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
Vietnamese Bible (1923 translation)
1„Ын время ачея”, зиче Домнул, „се вор скоате дин морминтеле лор оаселе ымпэрацилор луй Иуда, оаселе кэпетениилор луй, оаселе преоцилор, оаселе пророчилор ши оаселе локуиторилор Иерусалимулуй.
1Đức Giê-hô-va phán: Trong thời đó, người ta sẽ bới xương của các vua Giu-đa, xương của các quan trưởng, xương của các thầy tế lễ, xương của các tiên tri, và xương của các dân cư Giê-ru-sa-lem ra khỏi mồ mả.
2Ле вор ынтинде ын фаца соарелуй, ын фаца луний ши ын фаца ынтреӂий оштирь а черурилор, пе каре й-ау юбит ей, кэрора ле-ау служит, пе каре й-ау урмат, пе каре й-ау кэутат ши ынаинтя кэрора с-ау ынкинат. Ну ле вор май стрынӂе, нич ну ле вор май ынгропа, ши се вор фаче гуной пе пэмынт.
2Người ta sẽ phơi những xương ấy ra dưới mặt trời, mặt trăng, và cơ binh trên trời, tức là những vật mà họ đã yêu mến, hầu việc, bước theo, tìm cầu, và thờ lạy. Những xương ấy sẽ chẳng được thâu lại, chẳng được chôn lại; sẽ như phân trên mặt đất.
3Тоць чей че вор рэмыне дин ачест ням рэу вор дори май деграбэ моартя декыт вяца, ын тоате локуриле унде ый вой изгони”, зиче Домнул оштирилор.
3Mọi kẻ sót của họ hàng gian ác ấy còn lại trong mọi nơi ta đã đuổi chúng nó đến, chúng nó sẽ cầu chết hơn là sống, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
4„Спуне-ле: ‘Аша ворбеште Домнул: «Чине каде ши ну се май скоалэ? Сау чине се абате фэрэ сэ се ынтоаркэ ярэшь?»
4Vậy ngươi khá bảo chúng nó rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Người ta vấp ngã, há chẳng đứng dậy sao? Kẻ nào trở đi, há chẳng trở về sao?
5Пентру че дар попорул ачеста ал Иерусалимулуй се ласэ дус ын некурмате рэтэчирь, стэруеште ын ыншелэторие ши ну вря сэ се ынтоаркэ ла Думнезеу?
5Vậy thì làm sao mà dân sự Giê-ru-sa-lem nầy cứ mài miệt trong sự bội nghịch đời đời? Chúng nó khăng khăng giữ điều gian trá, chẳng chịu trở lại.
6Кэч Еу сунт ку луаре аминте ши ауд кэ ей ну ворбеск кум ар требуи; ничунул ну се кэеште де рэутатя луй ши ну зиче: ‹Че ам фэкут?› Чи тоць ышь ынчеп дин ноу алергаря, ка ун кал каре се арункэ ла луптэ.
6Ta đã lắng tai và nghe: chúng nó chẳng nói ngay thẳng, chẳng có ai ăn năn điều ác của mình, mà rằng: Ta đã làm gì? Thảy đều dong ruổi như ngựa xông vào trận.
7Кяр ши кокостыркул ышь куноаште время пе черурь; туртуряуа, рындуника ши кокорул ышь пэзеск время венирий лор, дар попорул Меу ну куноаште Леӂя Домнулуй!
7Chim hạc giữa khoảng không tự biết các mùa nhất định cho nó; chim cu, chim yến, chim nhạn, giữ kỳ dời chỗ ở. Nhưng dân ta chẳng biết luật pháp của Đức Giê-hô-va!
8Кум путець вой сэ зичець: ‹Сунтем ынцелепць ши Леӂя Домнулуй есте ку ной›? Ку адевэрат, деӂяба с-а пус ла лукру пана минчиноасэ а кэртурарилор.
8Sao các ngươi nói được rằng: Chúng ta là khôn sáng, có luật pháp Đức Giê-hô-va ở với chúng ta? Nhưng, nầy, ngọn bút giả dối của bọn thông giáo đã làm cho luật pháp ấy ra sự nói dối!
9Ынцелепций сунт даць де рушине, сунт уймиць, сунт приншь, кэч ау несокотит Кувынтул Домнулуй, ши че ынцелепчуне ау ей?
9Những kẻ khôn sáng bị xấu hổ, sợ hãi, và bị bắt. Chúng nó đã bỏ lời của Đức Giê-hô-va; thì sự khôn ngoan nó là thể nào?
10Де ачея, пе невестеле лор ле вой да алтора ши огоареле лор, алтор стэпынь. Кэч, де ла чел май мик пынэ ла чел май маре, тоць сунт лакомь де кыштиг мыршав, де ла пророк пынэ ла преот, тоць ыншалэ!
10Vậy nên, ta sẽ ban vợ chúng nó cho kẻ khác, ruộng chúng nó cho chủ mới; vì từ kẻ rất nhỏ cho đến người rất lớn, ai nấy đều tham lam; từ tiên tri cho đến thầy tế lễ, ai nấy đều làm sự gian dối.
11Лягэ ын кип ушуратик рана фийчей попорулуй Меу, зикынд: ‹Паче! Паче!› Ши тотушь паче ну есте.
11Chúng nó rịt vết thương cho con gái dân ta cách sơ sài, nói rằng: Bình an, bình an! mà không bình an chi hết.
12Вор фи даць де рушине, кэч сэвыршеск астфел де урычунь; ну рошеск ши ну штиу де рушине, де ачея вор кэдя ымпреунэ ку чей че кад ши вор фи рэстурнаць кынд ый вой педепси», зиче Домнул.
12Chúng nó làm ra sự gớm ghiếc, há lấy làm xấu hổ ư? đã chẳng xấu hổ chút nào, lại cũng không thẹn đỏ mặt. Vậy nên chúng nó sẽ ngã với những người vấp ngã. Đến ngày thăm phạt, chúng nó sẽ bị lật đổ, Đức Giê-hô-va phán vậy.
13«Вряу сэ испрэвеск ку ей», зиче Домнул. «Ну вор май фи стругурь ын вие, нич смокине ын смокин ши фрунзеле се вор вештежи. Ле вой да челор че вор трече песте еле.»’”
13Đức Giê-hô-va phán: Thật, ta sẽ diệt hết chúng nó. Chẳng còn trái nho trên cây nho; chẳng còn trái vả trên cây vả; lá sẽ khô rụng; những điều ta đã ban cho, sẽ bị cất lấy!
14„Пентру че шедем жос? Стрынӂеци-вэ ши хайдем ын четэциле ынтэрите, ка сэ перим аколо! Кэч Домнул Думнезеул ностру не сортеште ла моарте, не дэ сэ бем апе отрэвите, пентру кэ ам пэкэтуит ымпотрива Домнулуй.
14Sao chúng ta cứ ngồi yên? Hãy nhóm lại và vào các thành bền vững, và nín lặng tại đó! Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã khiến chúng ta nín lặng, Ngài cho chúng ta uống mật đắng, vì chúng ta đã phạm tội nghịch cùng Đức Giê-hô-va.
15Аштептам пачя, ши ну вине нимик май бун; о време де виндекаре, ши ятэ гроаза!
15Chúng ta trông sự bình an, nhưng chẳng có sự tốt gì đến; trông kỳ chữa lành, mà sự sợ hãi đây nầy!
16Сфорэитул каилор сэй се ауде динспре Дан ши де вуетул некезатулуй лор се кутремурэ тоатэ цара; вин, мэнынкэ цара ши че купринде еа, четатя ши пе чей че о локуеск.”
16Về phía thành Đan, nghe tiếng thét của ngựa nó; nghe tiếng ngựa chiến nó hí lên, khắp đất đều run rẩy; vì chúng nó đã đến; nuốt đất và mọi vật trong nó, nuốt thành và dân cư nó.
17„Кэч ятэ кэ тримит ынтре вой ниште шерпь, ниште басилишть, ымпотрива кэрора ну есте ничун дескынтек, ши вэ вор мушка”, зиче Домнул.
17Nầy, ta sẽ sai rắn, bọ cạp đến giữa các ngươi, chẳng ai ếm chú được nó; chúng nó sẽ cắn các ngươi, Đức Giê-hô-va phán vậy.
18Аш вря сэ-мь алин дуреря, дар мэ доаре инима ын мине.
18Ước gì tôi được yên ủi, khỏi sự lo buồn! Lòng tôi mỏi mệt trong tôi!
19Ятэ, стригэтеле фийчей попорулуй меу рэсунэ динтр-о царэ депэртатэ: „Ну май есте Домнул ын Сион? Ну май есте ын еа ымпэратул ей?” – „Пентру че М-ау мыният ей ку кипуриле лор чоплите, ку идоль стрэинь?” –
19Nầy, có tiếng kêu la của con gái dân ta, kêu từ đất xa lắm, rằng: Đức Giê-hô-va không còn ở trong Si-ôn sao? Vua của thành ấy không còn ở giữa thành sao? Sao chúng nó dùng tượng chạm của mình và vật hư không của dân ngoại mà chọc giận ta vậy?
20„Сечеришул а трекут, вара с-а испрэвит, ши ной тот ну сунтем мынтуиць!” –
20Mùa gặt đã qua, mùa hạ đã hết, mà chúng ta chưa được cứu rỗi!
21Сунт здробит де дуреря фийчей попорулуй меу, мэ доаре, м-апукэ гроаза.
21Con gái dân ta bị thương, ta vì đó bị thương; ta đang sầu thảm; bị sự kinh hãi bắt lấy.
22Ну есте ничун ляк алинэтор ын Галаад? Ну есте ничун доктор аколо? Пентру че ну се фаче дар виндекаря фийчей попорулуй меу?
22Trong Ga-la-át há chẳng có nhũ hương sao? há chẳng có thầy thuốc ở đó sao? Vậy thì làm sao mà bịnh con gái dân ta chẳng chữa lành?

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.