Иеремия
Chapter 31
Cornilescu Bible (1924),…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Иеремия 31

Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
Vietnamese Bible (1923 translation)
1„Ын время ачея”, зиче Домнул, „Еу вой фи Думнезеул тутурор семинциилор луй Исраел, ши ей вор фи попорул меу.”
1Đức Giê-hô-va phán: Trong lúc đó, ta sẽ làm Đức Chúa Trời của hết thảy họ hàng Y-sơ-ra-ên; chúng nó sẽ làm dân ta.
2Аша ворбеште Домнул: „Попорул челор че-ау скэпат де сабие а кэпэтат тречере ын пустиу: Исраел мерӂе спре локул луй де одихнэ.”
2Đức Giê-hô-va phán như vầy: Dân sót lại thoát khỏi gươm dao, tức là Y-sơ-ra-ên, đã được ơn trong đồng vắng, khi ta đi khiến chúng nó được yên nghỉ.
3Домнул ми Се аратэ де департе: „Те юбеск ку о юбире вешникэ, де ачея ыць пэстрез бунэтатя Мя!
3Đức Giê-hô-va từ thuở xưa hiện ra cùng tôi và phán rằng: Phải, ta đã lấy sự yêu thương đời đời mà yêu ngươi; nên đã lấy sự nhân từ mà kéo ngươi đến.
4Те вой ашеза дин ноу, ши вей фи ашезатэ дин ноу, фечоара луй Исраел! Те вей ымподоби ярэшь ку тимпанеле тале ши вей еши ын мижлокул жокурилор войоасе.
4Ta sẽ dựng lại ngươi, thì ngươi sẽ được dựng, hỡi gái đồng trinh Y-sơ-ra-ên! Ngươi sẽ lại cầm trống cơm làm trang sức, đi làm một với những người nhảy múa vui vẻ.
5Вей сэди ярэшь вий пе ынэлцимиле Самарией; чей че ле вор сэди ле вор кулеӂе ши роаделе.
5Ngươi sẽ lại trồng vườn nho trên núi Sa-ma-ri, những kẻ trồng sẽ trồng và sẽ được hái trái.
6Кэч вине зиуа кынд стрэжерий вор стрига пе мунтеле луй Ефраим: ‘Скулаци-вэ сэ не суим ын Сион, ла Домнул Думнезеул ностру!’”
6Sẽ có ngày, những kẻ canh trên các núi Eùp-ra-im kêu rằng: Hãy chổi dậy, chúng ta hãy lên núi Si-ôn, đến cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta!
7Кэч аша ворбеште Домнул: „Стригаць де букурие асупра луй Иаков, киуиць де веселие ын фрунтя нямурилор! Ынэлцаци-вэ гласуриле, кынтаць лауде ши зичець: ‘Доамне, избэвеште пе попорул Тэу, пе рэмэшица луй Исраел!’
7Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy trổi tiếng reo vui vì Gia-cốp; hãy hò hét lên vì dân làm đầu các nước. Khá rao truyền ngợi khen mà rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy cứu dân Ngài, là dân còn sót của Y-sơ-ra-ên.
8Ятэ, ый адук ынапой дин цара де ла мязэноапте, ый адун де ла марӂиниле пэмынтулуй: ынтре ей есте ши орбул ши шкьопул, фемея ынсэрчинатэ ши чя ын дурериле наштерий; о маре мулциме се ынтоарче ынапой аич!
8Nầy, ta sẽ đem chúng nó về từ xứ phương bắc, nhóm lại từ các đầu cùng đất. Trong vòng chúng nó sẽ có kẻ đui, kẻ què, đàn bà có nghén, đàn bà đẻ, hiệp nên một hội lớn mà trở về đây.
9Плынгынд вин ши ый дук ын мижлокул ругэчунилор лор; ый дук ла рыурь де апэ, пе ун друм нетед пе каре ну се потикнеск. Кэч Еу сунт Татэл луй Исраел, ши Ефраим есте ынтыюл Меу нэскут.
9Chúng nó khóc lóc mà đến, và ta sẽ dắt dẫn trong khi chúng nó nài xin ta; ta sẽ đưa chúng nó đi dọc bờ các sông, theo đường bằng thẳng, chẳng bị vấp ngã. Vì ta làm cha cho Y-sơ-ra-ên, còn Eùp-ra-im là con đầu lòng ta.
10Аскултаць Кувынтул Домнулуй, нямурь, ши вестици-л ын остроаве депэртате! Спунець: ‘Чел че а рисипит пе Исраел ыл ва адуна ши-л ва пэзи кум ышь пэзеште пэсторул турма.’
10Hỡi các nước, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va; hãy reo lời ấy ra trong các cù lao xa! Khá nói rằng: Đấng đã làm tan lạc Y-sơ-ra-ên sẽ thâu nhóm nó lại, sẽ giữ như kẻ chăn giữ bầy chiên mình.
11Кэч Домнул рэскумпэрэ пе Иаков ши-л избэвеште дин мына унуя май таре декыт ел.
11Vì Đức Giê-hô-va đã chuộc Gia-cốp, cứu khỏi tay kẻ mạnh hơn.
12Ей вор вени ши вор киуи де букурие пе ынэлцимиле Сионулуй; вор алерга ла бунэтэциле Домнулуй, ла грыу, ла муст, ла унтделемн, ла ой ши бой; суфлетул ле ва фи ка о грэдинэ бине удатэ ши ну вор май тынжи.
12Họ sẽ đến và hát trên nơi cao của Si-ôn; sẽ trôi chảy đến ơn phước của Đức Giê-hô-va, đến lúa mì, rượu mới, dầu, và con nhỏ của chiên và bò; lòng họ sẽ như vườn đượm nhuần, chẳng buồn rầu chi nữa hết.
13Атунч, фетеле се вор весели ла жок, тинерий ши бэтрыний се вор букура ши ей; ле вой префаче жаля ын веселие ши-й вой мынгыя, ле вой да букурие дупэ неказуриле лор.
13Bấy giờ gái đồng trinh sẽ vui mừng nhảy múa, các người trai trẻ và các ông già cũng sẽ vui chung; vì ta sẽ đổi sự sầu thảm chúng nó ra vui mừng, yên ủi chúng nó, khiến được hớn hở khỏi buồn rầu.
14Вой сэтура де грэсиме суфлетул преоцилор ши попорул Меу се ва сэтура де бунэтэциле Меле”, зиче Домнул.
14Ta sẽ làm cho lòng các thầy tế lễ chán chê vì đồ ăn béo; dân ta sẽ no nê về ơn phước của ta, Đức Giê-hô-va phán vậy.
15Аша ворбеште Домнул: „Ун ципэт се ауде ла Рама, плынӂерь ши лакримь амаре: Рахела ышь плынӂе копиий ши ну вря сэ се мынгые пентру копиий ей, кэч ну май сунт!”
15Đức Giê-hô-va phán như vầy: Tại Ra-ma nghe có tiếng than thở, khóc lóc đắng cay. Ra-chên khóc con cái mình, mà không chịu yên ủi về con cái mình, vì chúng nó không còn nữa!
16Аша ворбеште Домнул: „Опреште-ць плынсул, опреште-ць лакримиле дин окь, кэч труда ыць ва фи рэсплэтитэ”, зиче Домнул; „ей се вор ынтоарче ярэшь дин цара врэжмашулуй.
16Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy nín tiếng ngươi, đừng than khóc, mắt ngươi đừng sa lụy, vì công việc của ngươi sẽ được thưởng; chúng nó sẽ trở về từ xứ kẻ thù, Đức Giê-hô-va phán vậy.
17Есте нэдежде пентру урмаший тэй”, зиче Домнул; „копиий тэй се вор ынтоарче ын цинутул лор!
17Đức Giê-hô-va phán: Sẽ có sự trông mong cho kỳ sau rốt của ngươi; con cái ngươi sẽ trở về bờ cõi mình.
18Ауд пе Ефраим бочинду-се: ‘М-ай педепсит ши ам фост педепсит ка ун жунк недепринс ла жуг; ынтоарче-мэ Ту, ши мэ вой ынтоарче, кэч Ту ешть Домнул Думнезеул меу!
18Ta nghe Eùp-ra-im vì mình than thở rằng: Ngài đã sửa phạt tôi, tôi bị sửa phạt như con bò tơ chưa quen ách. Xin Chúa cho tôi trở lại, thì tôi sẽ được trở lại; vì Chúa là Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi!
19Дупэ че м-ам ынторс, м-ам кэит ши, дупэ че мь-ам рекуноскут грешелиле, мэ бат пе пулпэ; сунт рушинат ши рошу де рушине, кэч порт окара тинереций меле.’
19Thật, sau khi tôi bị trở lại, tôi đã ăn năn; sau khi tôi được dạy dỗ, tôi đã vỗ đùi. Tôi nhuốc nhơ hổ thẹn, vì đã mang sự sỉ nhục của tuổi trẻ.
20Ымь есте Ефраим ун фиу скумп, ун копил юбит де Мине? Кэч, кынд ворбеск де ел, Ымь адук аминте ку ӂингэшие де ел, де ачея Ымь арде инима ын Мине пентру ел ши вой авя милэ негрешит де ел”, зиче Домнул.
20Vậy thì Eùp-ra-im há là con rất thiết của ta, là con mà ta ưa thích sao? Mỗi khi ta nói nghịch cùng nó, ta còn nhớ đến nó lắm. Cho nên ta đã động lòng vì nó; phải, ta sẽ thương xót nó, Đức Giê-hô-va phán vậy.
21„Ридикэ семне пе друм, пуне стылпь, я сяма ла кале, ла друмул пе каре л-ай урмат… Ынтоарче-те, фечоара луй Исраел, ынтоарче-те ын четэциле ачестя каре сунт але тале!
21Hãy dựng nêu, đặt trụ chỉ lối; hãy để lòng về đường cái, nơi đường ngươi đã noi theo. Hỡi gái đồng trinh Y-sơ-ra-ên, hãy trở về các thành nầy thuộc về ngươi!
22Пынэ кынд вей фи прибягэ, фийкэ рэтэчитэ? Кэч Домнул фаче ун лукру ноу пе пэмынт: фемея ва пеци пе бэрбат.”
22Hỡi gái bội nghịch, ngươi sẽ đi dông dài cho đến chừng nào? Vì Đức Giê-hô-va đã dựng nên một sự mới trên đất: ấy là người nữ sẽ bao bọc người nam.
23Аша ворбеште Домнул оштирилор, Думнезеул луй Исраел: „Ятэ че се ва зиче ярэшь ын цара луй Иуда ши ын четэциле сале, кынд вой адуче ынапой пе принший лор де рэзбой: ‘Домнул сэ те бинекувынтезе, локаш ал неприхэнирий, мунте сфынт!’
23Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Khi ta đã đem những phu tù trở về, thì trong đất Giu-đa và các thành nó, người ta sẽ còn nói lời nầy: Hỡi chỗ ở của sự công bình, núi của sự thánh khiết kia, nguyền xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi!
24Иуда ва локуи аколо фэрэ тямэ ын тоате четэциле луй, плугарий ши чей че умблэ ку турмеле ла пэшуне.
24Giu-đa cùng mọi thành nó, những người làm ruộng và những kẻ dẫn bầy sẽ ở chung tại đó.
25Кэч вой рэкори суфлетул ынсетат ши вой сэтура орьче суфлет лихнит де фоаме.”
25Vì ta đã làm cho lòng mệt mỏi được no nê, và mỗi lòng buồn rầu lại được đầy dẫy.
26(Ла ачесте лукрурь м-ам трезит ши ам привит, ши сомнул ымь фусесе дулче.)
26Bấy giờ tôi thức dậy, thấy giấc ngủ tôi ngon lắm.
27„Ятэ вин зиле”, зиче Домнул, „кынд вой ынсэмынца каса луй Исраел ши каса луй Иуда ку о сэмынцэ де оамень ши о сэмынцэ де добитоаче.
27Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lấy giống người và giống thú vật mà gieo nơi nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa.
28Ши кум ам вегят асупра лор ка сэ-й смулг, сэ-й тай, сэ-й дэрым, сэ-й нимическ ши сэ ле фак рэу, тот аша вой вегя асупра лор ка сэ-й зидеск ши сэ-й сэдеск”, зиче Домнул.
28Như ta đã canh giữ chúng nó đặng nhổ, phá, đổ, diệt và làm khốn khổ thể nào, thì ta cũng sẽ canh giữ để dựng và trồng thể ấy, Đức Giê-hô-va phán vậy.
29„Ын зилеле ачеля, ну се ва май зиче: ‘Пэринций ау мынкат агуридэ, ши копиилор ли с-ау стрепезит динций’,
29Trong những ngày đó, người ta sẽ không còn nói: Oâng cha ăn trái nho chua mà con cháu phải ghê răng.
30чи фиекаре ва мури пентру нелеӂюиря луй; орькэруй ом каре ва мынка агуридэ и се вор стрепези динций!
30Nhưng mỗi người sẽ chết vì sự gian ác mình; hễ ai ăn trái nho chua, thì nấy phải ghê răng vậy.
31Ятэ, вин зиле”, зиче Домнул, „кынд вой фаче ку каса луй Исраел ши ку каса луй Иуда ун легэмынт ноу.
31Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa.
32Ну ка легэмынтул пе каре л-ам ынкеят ку пэринций лор ын зиуа кынд й-ам апукат де мынэ сэ-й скот дин цара Еӂиптулуй, легэмынт пе каре л-ау кэлкат, мэкар кэ авям дрептурь де соц асупра лор”, зиче Домнул.
32Giao ước nầy sẽ không theo giao ước mà ta đã kết với tổ phụ chúng nó trong ngày ta nắm tay dắt ra khỏi đất Ê-díp-tô, tức giao ước mà chúng nó đã phá đi, dầu rằng ta làm chồng chúng nó, Đức Giê-hô-va phán vậy.
33„Чи ятэ легэмынтул пе каре-л вой фаче ку каса луй Исраел дупэ зилеле ачеля”, зиче Домнул: „Вой пуне Леӂя Мя ынэунтрул лор, о вой скрие ын инима лор, ши Еу вой фи Думнезеул лор, яр ей вор фи попорул Меу.
33Đức Giê-hô-va phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta.
34Ничунул ну ва май ынвэца пе апроапеле сау пе фрателе сэу, зикынд: ‘Куноаште пе Домнул!’ Чи тоць Мэ вор куноаште, де ла чел май мик пынэ ла чел май маре”, зиче Домнул, „кэч ле вой ерта нелеӂюиря ши ну-Мь вой май адуче аминте де пэкатул лор.”
34Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình, mà rằng: Hãy nhận biết Đức Giê-hô-va! vì chúng nó thảy đều sẽ biết ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa.
35Аша ворбеште Домнул, каре а фэкут соареле сэ луминезе зиуа, каре а рындуит луна ши стелеле сэ луминезе ноаптя, каре ынтэрытэ маря ши фаче валуриле ей сэ урле, Ел, ал кэруй Нуме есте Домнул оштирилор:
35Đức Giê-hô-va, là Đấng đã ban mặt trời làm sự sáng ban ngày, ban thứ tự mặt trăng và ngôi sao soi ban đêm, lật biển lên, đến nỗi sóng nó gầm thét, Đức Giê-hô-va vạn quân là danh của Ngài phán rằng:
36„Дакэ вор ынчета ачесте леӂь динаинтя Мя”, зиче Домнул, „ши нямул луй Исраел ва ынчета пе вечие сэ май фие ун ням ынаинтя Мя!”
36Nếu lệ luật đó mất đi khỏi trước mặt ta, thì bấy giờ dòng giống Y-sơ-ra-ên cũng sẽ thôi không làm một nước trước mặt ta đời đời, Đức Giê-hô-va phán vậy.
37Аша ворбеште Домнул: „Дакэ черуриле сус пот фи мэсурате ши дакэ темелииле пэмынтулуй жос пот фи черчетате, атунч вой лепэда ши Еу пе тот нямул луй Исраел, пентру тот че а фэкут”, зиче Домнул.
37Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu trên có thể đo được trời, dưới có thể dò được nền đất; thì cũng vậy, ta sẽ bỏ trọn cả dòng giống Y-sơ-ra-ên vì cớ mọi đều chúng nó đã làm, Đức Giê-hô-va phán vậy.
38„Ятэ, вин зиле”, зиче Домнул, „кынд четатя ва фи зидитэ ярэшь ын чинстя Домнулуй, де ла турнул луй Хананеел пынэ ла Поарта Унгюлуй.
38Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, khi thành sẽ được xây lại cho Đức Giê-hô-va, từ tháp Ha-na-nê-ên cho đến cửa góc.
39Фрынгия де мэсурат ва трече ынкэ пе динаинтя ей пынэ ла дялул Гареб ши де аколо ва фаче ун окол ынспре Гоат.
39Dây đo sẽ giăng thẳng qua trên đồi Ga-rép, và vòng quanh đến đất Gô-a.
40Тоатэ валя унде се арункэ трупуриле моарте ши ченуша ши тоате огоареле пынэ ла пырыул Кедрон, пынэ ла унгюл порций каилор, ла рэсэрит, вор фи ынкинате Домнулуй ши ну вор май фи ничодатэ нич сурпате, нич нимичите.”
40Cả nơi trũng của thây chết và tro, hết thảy đồng ruộng cho đến khe Xết-rôn và đến góc cửa ngựa về phía đông, đều sẽ được biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, và đời đời sẽ không bị nhổ đi và đổ xuống nữa.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.