Ieremia 49
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1NO na keiki a Amona, ke olelo mai nei o Iehova penei; Aole anei a Iseraela na keiki? Aohe anei ona hooilina? No ke aha la hoi i noho ai o Malekama ma ko Gada? A noho hoi kona poe kanaka ma kona mau kulanakauhale?
1Về con cái Am-môn. Đức Giê-hô-va phán như vầy: Y-sơ-ra-ên há chẳng có con trai sao? há chẳng có con kế tự sao? Vì sao Minh-côm được lấy đất Gát làm cơ nghiệp, dân nó ở trong các thành của Gát?
2Nolaila, aia hoi, e hiki mai auanei na la, wahi a Iehova, Na'u no e hana aku, a e loheia ka hooho kaua ma Raba o ka Amona; A e lilo ia i puu neoneo, A e puhiia kana mau kaikamahine i ke ahi. Alaila, e lilo o Iseraela i hooilina no ka poe i noho hooilina nona, wahi a Iehova.
2Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ làm cho tiếng kêu về giặc giã vang ra nghịch cùng Ráp-bát, tức thành của con cái Am-môn, nó sẽ trở nên một đống đổ nát; các con gái nó sẽ bị lửa đốt cháy, bấy giờ Y-sơ-ra-ên sẽ chiếm lấy những kẻ đã chiếm lấy mình, Đức Giê-hô-va phán vậy.
3E aoa, e Hesebona, no ka mea, ua anaiia o Ai; E uwe aku, e na kaikamahine o Raba, E kaei oukou ia oukou iho i ke kapa inoino; E kumakena hoi, a e holoholo ma na pa; No ka mea, e hele o Malekama iloko o ke pio ana, O kona poe kahuna a me kana mau alii.
3Hỡi Hết-bôn, hãy than khóc, vì A-hi đã bị cướp phá! Hỡi con gái Ráp-bát, hãy kêu la; hãy mang bao gai, chạy đi chạy lại giữa các hàng rào mà than khóc! Vì Minh-côm sẽ đi làm phu tù cùng các thầy tế lễ và các quan trưởng mình.
4No ke aha la oe e hookiekie ai ma kou mau awawa? A ma kou awawa e kahe ana, e ke kaikamahine hoihope? Ka mea hilinai ma kou mau waiwai, i ka i ana iho, Owai ka mea hele mai io'u nei?
4Hỡi con gái bội nghịch kia, sao khoe mình về các nơi trũng ngươi, về nơi trũng màu mỡ ngươi? Ngươi tin cậy ở của báu mình, và nói rằng: Ai đến được cùng ta?
5Aia hoi, e lawe mai no wau i ka makau maluna ou, Wahi a Iehova, ke Akua o na kaua, Mai ka poe a pau e noho puni ana ia oe; A e kipakuia oukou, kela kanaka, keia kanaka mai kona maka aku. Aohe mea nana e hoihoi mai i ka mea hele hewa.
5Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, phán: Nầy, ta sẽ khiến sự kinh hãi từ mọi nơi chung quanh ngươi đến cùng ngươi; mỗi người trong các ngươi sẽ bị đuổi và chạy thẳng, chẳng ai sẽ thâu nhóm những người đi trốn.
6A mahope iho, e hoihoi no wau i ke pio ana o na keiki a Amona, wahi a Iehova.
6Nhưng về sau ta sẽ đem các con cái Am-môn bị phu tù trở về, Đức Giê-hô-va phán vậy.
7No Edoma, ke olelo mai nei o Iehova o na kaua penei; Aole anei he akamai i koe ma Temana? Ua oki anei ke ao ana o ka poe ike? Ua hanini anei ko lakou akamai?
7Về Ê-đôm. Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Trong Thê-man há không còn có sự khôn ngoan sao? Những người khôn đã dứt mưu luận của mình sao? Sự khôn ngoan của họ đã mất rồi sao?
8E hee oukou, e huli, e hana i ko oukou noho ana a hohonu, e ka poe noho ma Dedana; No ka mea, e lawe mai no wau i ka poino o Esau maluna ona, I ka manawa a'u e hoopai ai ia ia.
8Hỡi dân cư Đê-đan, hãy trốn, xây lưng lại, đi ở trong các chỗ sâu; vì ta sẽ khiến tai vạ của Ê-sau đến trên nó, là kỳ ta sẽ thăm phạt nó.
9Ina hele mai iou la ka poe hoiliili huawaina, Aole anei lakou e hookoe i kekahi koena hua? Ina he poe aihue i ka po, Hao iho no lakou, a pau ko lakou makemake.
9Kẻ hái nho đến nhà ngươi, há chẳng để sót lại một ít sao? Kẻ trộm ban đêm há chẳng hủy hoại cho đến mình có đủ sao?
10Ua hookohana no wau ia Esau, Ua wehe aku no wau i kona mau wahi huna, Aole hiki ia ia ke pee; Ua oki loa kona hua, a me kona poe hoahanau, O kona poe hoalauna hoi, a oia hoi, aole.
10Nhưng ta đã bóc lột hết Ê-sau, làm cho chỗ kín nó lõa lồ ra, không thể giấu mình được. Con cháu, anh em, kẻ lân cận nó đều bị diệt, và chính mình nó không còn.
11E waiho mai i ka oukou keiki makua ole ia'u, Na'u no lakou e hoola: E hilinai hoi ia'u kou poe wahinekanemake.
11Hãy bỏ những kẻ mồ côi của ngươi; chính ta sẽ giữ mạng sống chúng nó; các kẻ góa bụa của ngươi khá trông cậy ta!
12No ka mea, ke olelo mai nei o Iehova penei; Aia hoi, o ka poe hoohewa ole ia e inu i ke kiaha, Ua inu loa no lakou: O oe anei ka mea e pakele loa ana? Aole oe e pakele, e inu loa no oe.
12Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, những kẻ vốn không phải uống chén nầy, chắc sẽ uống lấy; và ngươi há khỏi hình phạt được hết sao? Ngươi sẽ không khỏi hình phạt, nhưng chắc sẽ uống chén ấy.
13No ka mea, ua hoohiki no wau ia'u iho, wahi a Iehova, E lilo auanei o Bozera i waonahele, i mea e hoowahawahaia'i, I waoakua hoi, i mea e hoinoia'i, A e lilo no kona mau kulanakauhale i mau waoakua mau loa.
13Đức Giê-hô-va phán: Vì ta đã chỉ chính mình ta mà thề, Bốt-sa sẽ nên gở lạ và sỉ nhục, bị phá tán và rủa sả; các thành nó sẽ trở nên gò đống đời đời.
14Ua lohe no wau i ka lono, mai Iehova mai, Ua hoounaia'ku hoi ka elele i ko na aina e, E akoakoa mai oukou, E hele mai e ku e ia ia, e ku mai hoi e kaua.
14Nầy là tin mà Đức Giê-hô-va cho ta nghe, và có một sứ giả được sai đến giữa các nước: Hãy nhóm lại đi đánh nó, hãy đứng dậy mà chiến đấu!
15No ka mea, aia hoi, e hoolilo no wau ia oe i mea uuku iwaena o na aina, A e hoowahawahaia no oe e na kanaka.
15Vì nầy, ta đã làm ngươi nên nhỏ mọn giữa các nước, và bị khinh dể giữa người ta.
16O kou mea makau ia oe a me ka hookiekie o kou naau, Ka mea i hoopunipuniia'i oe, e ka mea e noho la ma na ana pohaku, Ka mea hoi nona na wahi kiekie o ka pali: Ina paha e hana oe i kou wahi punana Ma kahi i like ke kiekie me ko ka aeto, Malaila mai no wau e hoohiolo ai ia oe, wahi a Iehova.
16Hỡi ngươi ở trong bộng đá lớn, choán trên đỉnh núi kia, cho mình là đáng sợ, lòng kiêu ngạo đã dối trá ngươi; dầu ngươi lót ổ mình cao như ổ chim ưng, ta cũng làm cho ngươi từ đó rớt xuống, Đức Giê-hô-va phán vậy.
17E lilo no hoi o Edoma i waonahele; A e kahaha auanei ka poe a pau e hele ae ma ia wahi, E hoowahawaha hoi no kona mau ino a pau.
17Ê-đôm sẽ nên gở lạ, mọi người đi qua sẽ lấy làm lạ; thấy tai vạ của nó, thì đều xỉ báng.
18E like me ka hiolo ana o Sodoma, a me Gomora, A me na wahi e pili ana ilaila, wahi a Iehova, Aohe kanaka e noho malaila, Aole hoi e hoomoana na keiki a kanaka ma ia wahi.
18Aáy sẽ giống như sự hủy hoại của Sô-đôm, Gô-mô-rơ, và các thành lân cận, Đức Giê-hô-va phán vậy. Ê-đôm sẽ không có người ở nữa, chẳng có một con người kiều ngụ tại đó.
19Aia hoi, e pii mai no oia, e like me ka liona mai ka nani o Ioredane mai, E ku e i ka noho ana o ka mea ikaika; Aka i ke amo ana o ka maka, e holo aku no oia, mailaila aku. Owai ka'u mea i waeia, e hoonoho no wau ia ia maluna ona? Owai ka mea like me au nei? Owai hoi ka mea e halawai me au? A owai ke kahuhipa e hiki ia ia ke ku imua o'u?
19Nầy, nó như sư tử lên từ các rừng rậm rạp của Giô-đanh mà nghịch cùng chỗ ở kiên cố. Thình lình ta sẽ làm cho Ê-đôm trốn khỏi, và ta sẽ lập người mà ta đã chọn để cai trị nó: vì ai giống như ta? ai sẽ định kỳ cho ta? có kẻ chăn nào sẽ đứng trước mặt ta?
20No ia mea, e hoolohe oukou i ka manao o Iehova, Ana i manao ai ia Edoma: A me kona noonoo ana i noonoo ku e i na kanaka o Temana. Oiaio no, e uhuki oia ia lakou me na mea liilii o ka ohana; Oiaio no, hooneoneo oia i ko lakou wahi noho a puni lakou.
20Vậy hãy nghe mưu Đức Giê-hô-va đã định nghịch cùng Ê-đôm, và ý định Ngài đã lập nghịch cùng dân cư Thê-man: Thật, những con nhỏ trong bầy chúng nó sẽ bị kéo đi; nơi ở chúng nó sẽ bị làm hoang vu.
21I ka halulu o kona haule ana, naueue no ka honua; Ma ke Kaiula, lohea no ka leo o kona uwe ana.
21Nghe tiếng chúng nó đổ xuống, đất đều chuyển động, tiếng kêu của chúng nó nghe thấu đến Biển đỏ.
22Aia hoi, e pii mai no oia, a e lele hoi e like me ka aeto, A e hohola aku i kona mau eheu maluna o Bozera; A i kela la, e like auanei ka naau o ka poe ikaika o Edoma Me ka naau o ka wahine i kona nahukuakoko ana.
22Nầy, kẻ thù bay như chim ưng, liệng và sè cánh nghịch cùng Bốt-ra. Ngày đó, lòng anh hùng Ê-đôm trở nên như lòng người đàn bà đang đẻ.
23No Damaseko. Ua hoohilahilaia o Hamata, a me Arepada hoi, No ka mea, ua lohe lakou i ka lono poino. Ua maule lakou, he weliweli ma ka moana; Aole hiki ia ia ke hoomalielie.
23Về Đa-mách. Ha-mát và Aït-bát đều bị hổ thẹn; vì chúng nó nghe tin xấu mà tan chảy: biển đang đau đớn, không yên lặng được.
24Ua emi iho o Damaseko, ua huli oia e hee, Ua loohia oia i ka makau, Ua loaa oia i ke nahu kuawili, a me ka eha, me ko ka wahine hanau keiki.
24Đa-mách đã trở nên yếu đuối, xây lại đi trốn, sự run rẩy đã bắt lấy nó: sự buồn rầu đau đớn cầm lấy nó, như đàn bà đang đẻ.
25Nani ke kuu ole ia o ke kulanakauhale kaulana, Ke kulanakauhale hoi o ko'u olioli ana!
25Vậy người ta sao chẳng bỏ thành có tiếng khen, là thành làm sự vui vẻ cho ta?
26Nolaila, e haule ai kona poe kanaka opiopio ma kona mau alanui, A e hooki loa ia na kanaka kaua a pau i kela la, Wahi a Iehova o na kaua.
26Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Bởi vậy, trong ngày đó, những kẻ trai trẻ nó sẽ ngã trong các đường phố nó, mọi lính chiến sẽ phải nín lặng.
27E hoaa na wau i ke ahi ma ka pa o Damaseko, A e hoopau no ia i na halealii o Benehadada.
27Ta sẽ đốt lửa nơi tường thành Đa-mách, nó sẽ thiêu hủy các cung điện Bên-Ha-đát.
28No Kedara, a no na aupuni o Hazora, na mea a Nebukaneza, ke alii o Babulona e luku ai, Ke i mai o Iehova penei; E ku oukou iluna, E pii aku i Kedara, a e luku aku i na kanaka o ka hikina.
28Về Kê-đa và các nước ở Hát-so mà Nê-bu-cát-nết-sa vua Ba-by-lôn đã đánh. Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đứng dậy, đi đánh Kê-đa, và phá diệt các con cái phương đông.
29E lawe aku no lakou i ko lakou halelewa, a me ka lakou poe hipa: E lawe hoi lakou no lakou iho i ko lakou mau paku, I ko lakou mau kiaha hoi, a me ka lakou poe kamelo; E kahea aku no keia poe ia lakou, He makau no ma na aoao a puni.
29Chúng nó sẽ cất lấy trại và bầy vật chúng nó, cướp lấy màn cháng, đồ lề, và lạc đà, mà kêu lên cùng chúng nó rằng: Sự kinh hãi bao bọc các ngươi tư bề!
30E holo, a hiki oukou i kahi loihi, E hana oukou i ko oukou noho ana ma kahi hohonu, E ka poe noho ma Hazora, wahi a Iehova: No ka mea, ua noonoo hewa ia oukou o Nebukaneza, ke alii o Babulona, A ua imi oia i ka manao ku e ia oukou.
30Đức Giê-hô-va phán: Hỡi dân cư Hát-so, hãy thoát mình! Hãy lánh đi xa! Hãy ở trong chỗ sâu, vì Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã toan mưu nghịch cùng các ngươi, định ý làm hại các ngươi.
31E ku iluna, e hele i ka lahuikanaka waiwai, I ka poe noho malama ole, wahi a Iehova; I ka poe aole o lakou pani pukapa, aole kikaola, Ua noho mehameha hoi.
31Đức Giê-hô-va phán: Hãy đứng dậy, đi đánh dân ở yên ổn không lo lắng gì. Dân ấy không có cửa đóng, không có then chốt, và cũng ở một mình.
32E lilo ka lakou poe kamelo i waiwaipio, A me ka nui o ka lakou holoholona i waiwai lawe wale. E hoopuehu no wau ma na kukulu makani a pau, I ka poe e kahi ana i na kihi o ka umiumi; A e lawe mai no wau i ko lakou poino, mai kela aoao keia aoao a pau, wahi a Iehova.
32Những lạc đà nó sẽ làm của cướp, bầy vật đông đúc nó sẽ làm mồi. Ta sẽ làm cho những kẻ cảo râu chung quanh tan lạc khắp bốn phương; ta sẽ khiến tai vạ từ mọi nơi đến trên chúng nó, Đức Giê-hô-va phán vậy.
33E lilo no hoi o Hazora i wahi noho no na ilio hihiu, I wahi neoneo mau loa hoi; Aohe kanaka e noho malaila, Aole hoi e hoomoana ke keiki a ke kanaka ma ia wahi.
33Hát-so sẽ trở nên hang chó đồng, làm nơi hoang vu đời đời. Chẳng ai ở đó nữa, chẳng có một con người nào trú ngụ đó!
34O ka olelo a Iehova i hiki mai io Ieremia la ke kaula, no Elama, i ka makamua o ke au ia Zedekia ke alii o ka Iuda, i mai la,
34Lúc Sê-đê-kia vua Giu-đa mới trị vì, có lời Đức Giê-hô-va phán cùng tiên tri Giê-rê-mi, về Ê-lam, rằng:
35Ke olelo mai nei o Iehova o na kaua penei; E uhai no wau i ke kakaka o Elama, I ke poo hoi o ko lakou ikaika.
35Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Nầy, ta sẽ bẻ cung của Ê-lam, là sức mạnh thứ nhất của nó.
36E lawe mai no hoi au maluna o Elama i na makani eha, Mai na kihi eha o ka lani mai, A e hoopuehu hoi ia lakou ma ia mau makani a pau; Aohe aina e koe, kahi e hiki ole aku ai ka poe kuewa o Elama.
36Ta sẽ khiến bốn gió từ bốn phương trời thổi đến nghịch cùng Ê-lam, sẽ làm tan lạc chúng nó đến mọi gió đó; chẳng có nước nào mà những kẻ bị đuổi của Ê-lam chẳng đến.
37No ka mea, e hooweliweli aku au ia Elama imua o ko lakou poe enemi, Imua hoi o ka poe imi i ko lakou ola: A lawe aku no hoi au i ka hewa maluna o lakou, I ka wela no o ko'u ukiuki, wahi a Iehova: Ae hoouna aku au i ka pahikaua mahope o lakou, A hoopau wau ia lakou.
37Ta sẽ làm cho người Ê-lam kinh hãi trước mặt kẻ thù nghịch và kẻ đòi mạng chúng nó. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ khiến sự tai hại, tức thạnh nộ phừng phừng của ta, đổ xuống trên chúng nó; và sai gươm theo sau, cho đến chừng nào ta hủy diệt chúng nó.
38E hoonoho wau i ko'u nohoalii ma Elama, A e anai aku hoi, mai ia wahi aku, i ke alii a me na luna, Wahi a Iehova.
38Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ đặt ngai ta trong Ê-lam; vua và các quan trưởng nó, ta sẽ diệt đi.
39A hiki i na la mahope, e hoihoi no wau i ke pio ana o Elama, wahi a Iehova.
39Nhưng sẽ xảy ra trong những ngày sau rốt, ta sẽ đem các phu tù của Ê-lam trở về, Đức Giê-hô-va phán vậy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.