Ieremia
Chapter 6
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1E NA mamo a Beniamina, e hoakoakoa oukou e holo aku mawaho o Ierusalema; a e puhi i ka pu ma Tekoa, a e kau hoi i ka hoailona o ke ahi ma Betehakerema. No ka mea, aneane mai ka hewa, a me ka make nui, mai ke kukulu akau mai.
1Hỡi con cái Bên-gia-min, hãy trốn khỏi thành Giê-ru-sa-lem để được yên ổn. Hãy thổi kèn tại Thê-cô-a, lên vọi trên Bết-Kê-rem; vì từ phương bắc xảy đến một tai nạn, và sự tàn hại rất lớn.
2Ua hoopau no au i ke kaikamahine o Ziona, i ka mea puloku, a palupalu.
2Ta sẽ hủy diệt gái đẹp đẽ yểu điệu của Si-ôn!
3E hele mai no io na la na kahu hipa, me ko lakou poe hipa, e kukulu no lakou i na halelewa a puni ia wahi; e ai no kela mea keia mea i kona wahi iho.
3Những kẻ chăn cùng bầy chiên mình sẽ đến nghịch cùng nó. Chúng nó đóng trại chung quanh nó, mỗi kẻ choán phần đất mình cho bầy ăn.
4E hoomakaukau oukou e kaua ia ia; e ku mai, e pii ku e kakou ia ia i ke awakea. Auwe kakou! no ka mea, e pau ana ka la; ua hohola ae ka molehulehu o ke ahiahi.
4Hãy sửa soạn chiến trận nghịch cùng nó! Hãy đứng lên! hãm đánh vào lúc đứng trưa! Khốn thay! ngày đã xế, bóng chiều đã dài!
5E ku mai, e hele hoi kakou i ka po, a e wawahi i kona mau hale alii.
5Hãy dậy, sấn lên trong lúc ban đêm, hủy diệt cung điện nó!
6No ka mea, ua olelo mai o Iehova o na kaua penei, E kua oukou ilalo i mau laau, a e hana hoi i puu ku e ia Ierusalema; oia ke kulanakauhale e hoopaiia'i; o ka hooluhi wale no ko loko ona.
6Vì Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Hãy đốn cây và đắp lũy lên nghịch cùng Giê-ru-sa-lem! Kìa là thành phải bị thăm phạt; giữa nó đầy những sự ức hiếp.
7A like me ka punawai i puai mai i kona mau wai, pela no oia i puai mai i kona hewa. Ua loheia ka lawe wale a me ka hao ana maloko ona; imua o ko'u alo, ua mau loa no ke kaumaha a me ka palapu.
7Như suối văng nước ra thể nào, thì nó cũng văng những điều gian ác ra thể ấy. Sự dữ tợn và hủy phá nghe ra trong nó; bịnh hoạn và thương tích thường ở trước mặt ta.
8E aoia oe, e Ierusalema, o haalele kuu uhane ia oe, a hooneoneo aku hoi au ia oe, he aina noho ole ia.
8Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy chịu dạy dỗ, e rằng lòng ta chán bỏ ngươi, mà làm cho đất ngươi hoang vu, không người ở chăng.
9Ke olelo mai nei o Iehova o na kaua penei, E hoiliili no lakou i ke koena a pau o ka Iseraela, e like me ke kumu waina; e hoihoi i kou lima, e like me ka mea hoiliili i ka huawaina iloko o na hinai.
9Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Người ta sẽ lượm hết dân sót của Y-sơ-ra-ên như hái nho. Hãy trở tay mà hái, như người hái nho làm trên nhánh nho vậy.
10Ia wai la wau e olelo aim ai, a e ao aku hoi, i lohe lakou? Aia hoi, ua okipoepoe ole ia ko lakou pepeiao, aole hiki ia lakou ke hoolohe: aia hoi, he mea hoowahawaha ka olelo a ke Akua ia lakou, aohe o lakou lealea iloko o ia mea.
10Ta sẽ nói và làm chứng cho ai, đặng họ nghe ta! Nầy, tai họ chưa cắt bì, họ không nghe được. Nầy, lời của Đức Giê-hô-va đã trở nên sự quở trách cho họ, họ chẳng lấy làm đẹp lòng chút nào.
11Nolaila, ua piha au i ka inaina o Iehova; ua auka au i ka uumi ana. E ninini aku au ia maluna o na kamalii mawaho, maluna pu no me ka ahakanaka ui; no ka mea, e lawe pio pu ia no ke kane me ka wahine, o ka mea elemakule me ka mea i nui kona mau la.
11Cho nên ta được đầy cơn giận của Đức Giê-hô-va, mệt vì nín lặng. Hãy đổ nó ra trên con nít ngoài đường phố và trên hội kẻ trai trẻ. Vì chồng với vợ, ông già cùng kẻ lớn tuổi đều sẽ bị bắt.
12A e hooliloia ko lakou hale no na kanaka e, a me na mahinaai, a me na wahine pu; no ka mea, e kikoo aku no au i ko'u lima, maluna o ka poe e noho ana ma ka aina, wahi a Iehova.
12Nhà, ruộng, và vợ của họ sẽ sang qua kẻ khác; vì tay ta sẽ giang ra trên dân cư đất nầy, Đức Giê-hô-va phán vậy.
13No ka mea, mai ka mea uuku o lakou a ka mea nui o lakou, ua makee waiwai lakou a pau; a mai ke kaula mai a ke kahuna, hana ma ka wahahee kela mea keia mea.
13Vì trong vòng họ, từ kẻ rất nhỏ cho đến người rất lớn, đều tham lam; từ kẻ tiên tri cho đến thầy tế lễ, đều làm sự giả dối.
14Ua hoola hapa lakou i ka eha o ko'u poe kanaka, me ka olelo iho, He malu, he malu; aole hoi he malu.
14Họ rịt vết thương cho dân ta cách sơ sài mà rằng: Bình an! bình an! mà không bình an chi hết.
15Ua hilahila anei lakou ia lakou i hana'i i ka mea e hoopailua ai? Ole, aole lakou i hilahila iki, aole hoi i ike i ka hoopalaimaka; nolaila lakou e haule ai iwaena o ka poe haule; a hoopai aku au ia lakou, alaila lakou e kulaina'i, wahi a Iehova.
15Họ phạm tội gớm ghiếc, há lấy làm xấu hổ ư? Họ chẳng xấu hổ chút nào, cũng chẳng thẹn đỏ mặt nữa. Cho nên họ sẽ vấp ngã với những kẻ vấp ngã. Khi ta thăm phạt, chúng nó sẽ bị lật đổ, Đức Giê-hô-va phán vậy.
16Ke i mai nei o Iehova penei, E ku mai oukou ma na alanui, a nana, a e ninau hoi no na kuamoo kahiko. Auhea ka aoao maikai? E hele oukou maloko olaila, a e loaa no ia oukou ka hoomaha no ko oukou poe uhane. Aka, olelo mai la lakou, Aole makou e hele.
16Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đứng trên các đường cái và nhìn xem; tra xét những đường lối cũ, xem thử đường tốt ở đâu: hãy đi đường ấy, thì các ngươi sẽ được sự an nghỉ cho linh hồn mình. Nhưng chúng nó đáp rằng: Chúng tôi không khứng đi đường ấy.
17A hoonoho iho la au i poe kiai maluna o oukou, nana i olelo, E hoolohe oukou i ke kani ana o ka pu. Aka, olelo mai la lakou, Aole makou e hoolohe.
17Ta đã lập vọng canh kề các ngươi; hãy chăm chỉ nghe tiếng kèn. Nhưng chúng nó đáp rằng: Chúng tôi không khứng nghe.
18Nolaila, e hoolohe mai oukou, e na aina, a e ike hoi, e ka ahakanaka, i ka mea mawaenao lakou.
18Vì vậy, hỡi các nước, hãy nghe; hỡi hội chúng, hãy biết điều xảy đến giữa chúng nó!
19E hoolohe mai, e ka honua! aia hoi, e lawe mai ana no wau i ka hewa maluna o keia poe kanaka, i ka hua hoi o ko lakou manao iho; no ka mea, aole lakou i hoolohe mai i ka'u mau olelo, aole hoi i ko'u kanawai, aka, hoole lakou ia.
19Hỡi đất, hãy nghe: Nầy, ta sẽ khiến tai vạ đến trên dân nầy, tức là quả báo của ý tưởng nó, vì nó chẳng chăm nghe lời ta, và đã bỏ luật pháp ta.
20No ke aha la e hele mai ai ka mea ala mai Seba mai no'u? A me ka ohe ala mai ka aina mamao aku mai? Aole i makemakeia e a'u ko oukou mohaikuni, aole hoi i oluolu ko oukou alana.
20Nào ta có cần gì nhũ hương đến từ Sê-ba, xương bồ đến từ xứ xa mà dâng cho ta? Của lễ thiêu của các ngươi chẳng đẹp lòng ta, ta chẳng lấy tế lễ của các ngươi làm vừa ý.
21Nolaila, ke olelo mai nei o Iehova penei, Aia hoi, e waiho aku au i mau mea e hina'i imua o keia poe kanaka, a e haule pu maluna o ia mau mea na makuakane, a me na keikikane. E make pu no ka hoalauna, a me kona hoa.
21Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ đặt sự ngăn trở trước mặt dân nầy; cha và con sẽ cùng nhau vấp ngã; xóm riềng bạn hữu đều chết mất.
22Ke i mai nei o Iehova penei, Aia hoi, he poe kanaka e hele mai la, mai ka aina akau mai; a e hoalaia mai ka lahuikanaka nui, mai na aoao mai o ka honua.
22Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, một dân đến từ xứ phương bắc; một nước lớn dấy lên từ nơi đầu cùng đất.
23E lalau no lakou i ke kakaka, a me ka ihe: he poe lokoino lakou, aohe o lakou lokomaikai; halulu ko lakou leo, e like me ke kai; a holo no lakou maluna o na lio i hoomakaukauia e like me na kanaka kaua e ku e aku ia oe, e ke kaikamahine o Ziona.
23Chúng nó thảy đều cầm cung và giáo, thật là dữ tợn, chẳng có lòng thương xót. Tiếng chúng nó rống lên như biển, họ đều cỡi ngựa; ai nấy sắp hàng như người lính chiến mà nghịch cùng ngươi, hỡi con gái Si-ôn!
24Ua lohe makou i kona kaulana, ua nawaliwali hoi ko makou mau lima; ua loohia makou i ka haalulu, a me ke kuakoko e like me ko ka wahine hanau keiki.
24Chúng ta đã nghe tin ấy, tay đều yếu đuối; buồn rầu thảm thiết, cơn quặn thắt như đàn bà đẻ con đã xông vào chúng ta.
25Mai hele aku iloko o ke kula, mai hele hoi ma na alanui; no ka mea, aia no ka pahikaua o ka enemi, a me ka makau ma na aoao a pau.
25Chớ ra nơi đồng ruộng, chớ đi trên đường, vì gươm của giặc ở đó, khắp mọi nơi đều có sự kinh hãi.
26E ke kaikamahine o ko'u poe kanaka, e hoaahu oe i kapa Kumakena, a e lulu i ka lehu maluna ou; a e kumakena hoi oe, e like me ia no ka hanaukahi, he kumakena ino loa; no ka mea, e hele hoohikilele mai ana ka mea anai ia kakou.
26Hỡi con gái của dân ta, hãy thắt lưng bằng bao gai, và lăng trong tro bụi. Hãy phát tang như mất con trai một, làm cho nghe tiếng than khóc đắng cay; vì kẻ tàn phá sẽ xông tới trên chúng ta thình lình.
27Ua hoonoho wau ia oe, i hale kiai, a i pakaua mawaena o ko'u poe kanaka, i ike oe, a e hoao i ko lakou aoao.
27Ta đã lập ngươi làm kẻ thử và đồn lũy giữa dân ta, đặng ngươi nhận biết và dò xem đường lối nó.
28He poe hoihope ino lakou a pau, e hele ana me ka ahiahi; he keleawe lakou, a he hao hoi; he poe hoohaumia lakou a pau.
28Chúng nó thảy đều bạn nghịch quá lắm, đi dạo nói xấu, cứng như đồng như sắt, làm những sự bại hoại.
29Ua wela na upamakani, ua pau i ke ahi ke kepau; o ka mea hoohehee, hoohehee makehewa no oia: no ka mea, aole i laweia'ku ka poe hewa.
29Oáng bễ thổi mạnh, chì đã tiêu bởi lửa; chúng nó luyện đi luyện lại cũng là luống công: vì kẻ gian ác vẫn chưa trừ khỏi.
30E kapaia no lakou, he kala i haaleleia, no ka mea, ua haalele o Iehova ia lakou.
30Nó sẽ bị gọi là bạc bỏ, vì Đức Giê-hô-va từ bỏ nó.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.