Ieremia
Chapter 46
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1KA olelo a Iehova i hiki mai io Ieremia la i ke kaula, e ku e i ko na aina;
1Có lời của Đức Giê-hô-va phán cho tiên tri Giê-rê-mi, luận về các dân tộc.
2E ku e ia Aigupita, i ka poe kaua hoi o Parao-neko, ke alii o Aigupita, aia ma ka muliwai o Euperate, ma Karekemisa, ka poe a Nebukaneza i luku ai i ka makahiki aha o Iehoiakima, ke keiki a Iosia, ke alii o ka Iuda.
2Về Ê-díp-tô. Luận về đạo quân của vua Ê-díp-tô, Pha-ra-ôn-Nê-cô, bấy giờ đóng gần sông Ơ-phơ-rát, tại Cạt-kê-mít; tức đạo quân bị Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đánh đuổi, về năm thứ tư đời vua Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua của Giu-đa.
3E hoomakaukau oukou i ka paku a me ka palekaua, a e hookokoke i ke kaua.
3Hãy sửa soạn thuẫn lớn thuẫn nhỏ, và đi ra trận!
4E kahiko i na lio, a e ee ae, e na hololio, a e ku mai me na mahiole; e hookala i na ihe, e komo na paleumaumaunahi.
4Hỡi lính kỵ, hãy thắng ngựa, cỡi lên! Khá đội mão trụ và đứng sắp hàng; mài mũi giáo và mặc giáp!
5No ko aha la wau i ike aku ai ia lakou ua makau a hoi hope? ua hahauia na mea ikaika o lakou, a ua hee loa, aole i nana ihope; puni lakou i ka makau, wahi a Iehova.
5Làm sao ta đã thấy sự đó! Chúng nó bị kinh hãi, đều quay lưng lại; lính chiến vỡ tan, chạy trốn chẳng ngó lại đàng sau. Sự kinh khiếp khắp tứ bề, Đức Giê-hô-va phán vậy.
6Aole e hiki i ka mea mama e holo, aole hoi e pakele ka poe ikaika; e okupe no lakou a hina ma ke kukulu akau, ma ka muliwai o Euperate.
6Người rất lẹ cũng không thể thoát, người rất mạnh cũng không thể trốn. Về phương bắc, trên bờ sông Ơ-phơ-rát, kìa, chúng nó vấp và ngã!
7Owai keia mea e hele mai nei, me he wai pii la, a kupikipikio na wai, e like me ka wai kahe la?
7Kìa, kẻ dấy lên như sông Ni-lơ, như sông lớn nổi sóng sôi bọt là ai?
8Ke pii nei o Aigupita, me he wai pii la, a ua kupikipikio kona mau wai me he wai kahe la; a olelo no hoi oia, E pii aku no wau, e uhi no wau i ka honua; e luku no wau i ke kulanakauhale, a me ka poe e noho ana ilaila.
8Aáy là Ê-díp-tô dấy lên như sông Ni-lơ, các dòng nước nó sôi bọt như các sông. Nó nói: Ta sẽ dấy lên, bao phủ cả đất; ta sẽ hủy phá các thành và dân cư.
9E pii mai, e na lio, e holo ikaika hoi, e na kaakaua; e hele mai na kanaka ikaika, o ko Aitiopa, a me ko Libua, ka poe lawelawe i ka palekaua, a me ka Ludia, o ka poe i lawelawe, a lena ke kakaka.
9Ngựa, hãy xông tới; xe binh, hãy ruổi mau; hãy kéo tới, lính chiến kia; người Cút và người Phút đều mang thuẫn, còn người Ly-đi cầm cung và giương ra.
10Oia no ka la o ka Haku, o Iehova o na kaua, ka la o ka hoopai ana, e hoopai ai i kona poe enemi nona; e ai no ka pahikaua, a e maona no, a e ona no hoi i ko lakou koko; no ka mea, he mohai ko ka Haku, ko Iehova o na kaua ma ka aina o ke kukuluakau, ma ka muliwai o Euperate.
10Ngày đó thuộc về Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân; ấy là ngày báo thù, Ngài sẽ báo kẻ thù nghịch mình. Gươm nuốt mà no, uống huyết chúng nó cho đầy; vì Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, có sự tế tự trong xứ phương bắc, bên sông Ơ-phơ-rát.
11E pii aku oe i Gileada, a e lawe mai oe i nini, e ka wahine puupaa, ke kaikamahine o Aigupita; he make hewa nae kou lawe ana i ka laaulapaau a nui, no ka mea, aole loaa ia oe ke ola.
11Hỡi nữ đồng trinh, con gái của Ê-díp-tô! hãy lên Ga-la-át, mà lấy nhũ hương; ngươi dùng nhiều thứ thuốc cũng vô ích, chẳng chữa lành cho ngươi được!
12Ua lohe ko na aina i kou hilahila, a ua hoopiha kou uwe ana i ka aina; no ka mea, ua okupe kekahi kanaka ikaika i kekahi kanaka ikaika, a ua hina pu laua.
12Các nước đều nghe sự xấu hổ của ngươi, tiếng rên siếc của ngươi đầy khắp đất; vì lính chiến chạm lính chiến, cả hai cùng ngã với nhau.
13Ka olelo a Iehova i olelo mai ai ia Ieremia, i ke kaula, no ka hele ana mai o Nebukaneza, ke alii o Babulona, e anai i ka aina o Aigupita.
13Nầy là lời Đức Giê-hô-va phán cho tiên tri Giê-rê-mi, về sự Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, sẽ đến đánh đất Ê-díp-tô:
14E hai aku oukou ma Aigupita, e kala aku hoi ma Migedola, e kala aku ma Nopa, a ma Tapehanesa; e i aku, E kupaa, a e hoomakaukau ia oe; no ka mea, e ai no ka pahikaua a puni oe.
14Hãy rao tin trong Ê-díp-tô; truyền cho Mít-đôn, báo cho Nốp và Tác-pha-nết, nói rằng: Hãy đứng sắp hàng, chực sẵn, vì gươm đã nuốt chung quanh ngươi.
15No ke aha la i hoohinaia'i kou poe koa, aole lakou i kupaa, no ka mea, hooauhee o Iehova ia lakou.
15Vì sao những người mạnh của ngươi bị cất mất? Chúng nó không đứng được, vì Đức Giê-hô-va đã đuổi chúng nó.
16Nana no i hoohina i na mea he nui loa; oia, hina no kekahi maluna o kekahi; olelo no nae lakou, E ku kakou iluna, e hoi hou kakou i ko kakou kanaka iho, a i ko kakou aina i hanau ai, mai ke alo aku o ka pahikaua luku.
16Ngài làm cho nhiều người đi xiêu tó, người nầy ngã trên kẻ khác, mà rằng: Đi hè, trở về nơi dân ta, trong đất chúng ta sanh ra, xa nơi gươm dao ức hiếp!
17Uwe no lakou malaila, he walaau wale o Parao, ke alii o Aigupita, ua hala kona manawa pono.
17Tại đó, họ kêu lên rằng: Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, bị diệt rồi; đã để dịp tiện qua đi.
18Me au e ola nei, wahi a ke Alii, nona ka inoa, o Iehova o na kaua, Oiaio, me Tabora iwaena o na mauna, a me Karemela ma kahakai, e hele mai no ia.
18Đức Vua, danh Ngài là Giê-hô-va vạn quân, phán: Thật như ta sống, kẻ thù đến, như núi Tha-bô dấy lên giữa các núi khác, như Cạt-mên thò ra ngoài biển.
19E ke kaikamahine e noho la ma Aigupita, e hoomakaukau oe i kahiko no kou hele pio ana; no ka mea, e olohelohe auanei, a e mehameha hoi o Nopa, aohe mea noho malaila.
19Hỡi gái đồng trinh ở Ê-díp-tô, hãy sắm đồ lề đi làm phu tù; vì Nốp sẽ trở nên hoang vu; sẽ bị đốt, không có dân ở nữa.
20He keiki bipi wahine maikai o Aigupita, ke hele mai nei kona make, mai ka akau mai ka hele ana.
20Ê-díp-tô là một con bò cái tơ đẹp đẽ, nhưng bị ong lỗ từ phương bắc đến chích nó.
21O kona poe paaua iwaenakonu ona, ua like me na keikibipi kupaluia; no ka mea, ua hee lakou, ua auhee pu aku no; aole lakou i ku paa, no ka mea, ua hiki mai ka la o ko lakou poino maluna o lakou, o ka manawa hoi o ko lakou hoopaiia.
21Những quân thuê ở giữa nó cũng như bò con béo. Nhưng chúng nó cũng xây lưng lại, thảy cùng nhau trốn tránh, không đứng vững được. Vì ngày tai họa, kỳ thăm phạt, đã đến trên chúng nó rồi.
22E loheia ka leo ona me ko ka nahesa la; no ka mea, e hele mai no lakou me ka poe kaua, a e hele ku e ia ia me na lipi, e like me ka poe kualaau.
22Tiếng nó như rắn đi; vì quân nghịch nó kéo tới mạnh lắm, cầm búa rìu đến trên nó, như thể thợ rừng.
23E kua lakou i kona ululaau ilalo, wahi a Iehova, ina no e hiki ole ke nana ia ia a pau; no ka mea, ua oi aku ko lakou lehulehu i ko na uhini, hiki ole ke heluia aku.
23Đức Giê-hô-va phán: Quân nghịch đốn chặt rừng nó, rừng nó không thể dò xem được. Vì chúng nó đông hơn cào cào, không thể đếm được.
24E hoohilahilaia ke kaikamahine o Aigupita; e haawiia oia iloko o ka lima o na kanaka o ke kukuluakau.
24Con gái Ê-díp-tô sẽ mang xấu hổ, sẽ bị nộp trong tay dân phương bắc.
25Ke i mai nei o Iehova o na kaua, ke Akua o ka Iseraela, penei; Aia hoi, e hoopai no wau ia Amona o No, a me Parao, a me Aigupita, a me ko lakou poe Akua, a me ko lakou poe alii, ia Parao no, a me ka poe a pau e hilinai ia ia.
25Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán rằng: Nầy, ta sẽ phạt A-môn, là thần của Nô, luôn cả Pha-ra-ôn, và Ê-díp-tô, với các thần và các vua nó: tức Pha-ra-ôn cùng những kẻ nhờ cậy người.
26A e haawi no wau ia lakou iloko o ka lima o ka poe imi i ko lakou ola, a iloko o ka lima o Nebukaneza, ke alii o Babulona, a iloko o ka lima o kana poe kauwa. A mahope iho e nohoia no ia e like me ka wa kahiko, wahi a Iehova.
26Ta sẽ phó chúng nó trong tay những kẻ đòi mạng chúng nó, tức trong tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, và trong tay tôi tớ người; về sau Ê-díp-tô sẽ còn có dân ở như ngày xưa. Đức Giê-hô-va phán vậy.
27Mai makau oe. e ka'u kauwa, e Iakoba, mai weliweli hoi, e ka Iseraela; no ka mea, aia hoi, e hoola no wau ia oe, mai kahi loihi mai, a me kau poe mamo hoi, mai ka aina mai o ko lakou noho pio ana; a e hoi no ka Iakoba, a e noho hoomaha, a e oluolu no, aohe mea nana e hoomakau ia ia.
27Hỡi tôi tớ ta là Gia-cốp, chớ sợ chi; hỡi Y-sơ-ra-ên, chớ kinh hãi! Vì ta sẽ cứu ngươi từ xứ xa, sẽ khiến dòng dõi ngươi ra từ đất mình bị làm phu tù. Gia-cốp sẽ trở về, được bình an yên ổn, chẳng ai làm cho sợ hãi.
28Mai makau oe, e Iakoba, e ka'u kauwa, wahi a Iehova; no ka mea, owau pu me oe; no ka mea, e hoopau ana au i ko na aina a pau, kahi a'u i kipaku ai ia oe: aka, aole au e hoopau ia oe, e hoouku pono aku no nae wau ia oe, aole au e hooki loa aku ia oe.
28Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Gia-cốp tôi tớ ta, ngươi chớ sợ, vì ta ở cùng ngươi. Ta sẽ diệt hết các nước mà ta đã đuổi ngươi đến; còn ngươi, thì ta không diệt hết đâu, nhưng sẽ sửa trị ngươi cách chừng mực, và không thể nào không phạt ngươi.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.