Ieremia 2
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A HIKI mai la ka olelo a Iehova ia'u, i mai la,
1Có lời Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng:
2O hele, e kala ma na pepeiao o ko Ierusalema, e i aku, Ke olelo mai nei o Iehova, penei, Ua hoomanao aku au ia oe, i ka lokomaikai o kou wa opiopio, i ke aloha o kou wa i mare hou ia'i, i kou hahai ana mamuli o'u maloko o ka waonahele, ma ka aina i lulu ole ia.
2Hãy đi, kêu vào tai Giê-ru-sa-lem rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta còn nhớ về ngươi lòng nhân từ của ngươi lúc đang thơ, tình yêu mến trong khi ngươi mới kết bạn, là khi ngươi theo ta nơi đồng vắng, trong đất không gieo trồng.
3Ua laa no ka Iseraela no Iehova, a me na hua mua o kona mea ulu. O na mea a pau i hoopau ia ia, ua hewa no lakou; e hiki mai no ka hewa maluna o lakou, wahi a Iehova.
3Y-sơ-ra-ên vốn là dân biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va; vốn là trái đầu mùa của hoa lợi Ngài. Phàm những kẻ nuốt dân ấy sẽ có tội; tai vạ sẽ lâm trên họ, Đức Giê-hô-va phán vậy.
4E hoolohe mai oukou i ka olelo a Iehova, e ko ka hale o Iakoba, a me na ohana a pau o ka hale o ka Iseraela.
4Hỡi nhà Gia-cốp, cùng các họ hàng nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va!
5Ke i mai nei o Iehova penei, Heaha ka hewa i loaa i ko oukou mau makua iloko o'u, i hele loihi aku ai lakou mai o'u aku nei, a ua hele hoi mamuli o ka lapuwale, a ua lilo lakou i mea lapuwale?
5Đức Giê-hô-va phán như vầy: Tổ phụ các ngươi có thấy điều không công bình gì trong ta, mà đã xa ta, bước theo sự hư không, và trở nên người vô ích?
6Aole hoi lakou i ninau iho, Auhea o Iehova, ka mea nana i lawe mai ia kakou, mai ka aina o Aigupita mai, a alakai hoi ia kakou maoko o ka waonahele, maloko hoi o ka aina i paapu i na auakua, a me na lua, mawaena hoi o ka aina maloo, a me ke aka o ka make, mawaena o ka aina i hele ole ia e kanaka, a noho ole ia hoi e ke kanaka?
6Họ không nói: Chớ nào Đức Giê-hô-va ở đâu? Aáy là Đấng đã đem chúng ta lên khỏi đất Ê-díp-tô, đã dắt chúng ta qua đồng vắng, trong đất sa mạc đầy hầm hố, trong đất khô khan và có bóng sự chết, là đất chẳng một người nào đi qua, và không ai ở.
7A lawe mai au ia oukou maloko o ka aina ai nui i ai oukou i kolaila hua, a me kolaila maikai. Aka, i ko oukou komo ana, hoohaumia oukou i ko'u aina, a hoolilo hoi i ko'u hooilina i mea e hoopailua ai.
7Ta đã đem các ngươi vào trong một đất có nhiều hoa quả, để ăn trái và hưởng lợi nó. Nhưng, vừa vào đó, các ngươi đã làm ô uế đất ta, đã làm cho sản nghiệp ta thành ra gớm ghiếc.
8Aole i olelo na kahuna, Auhea o Iehova? A o ka poe hoi i lawelawe ma ke kanawai, aole lakou i ike mai ia'u. A hana hewa mai no hoi ia'u ka poe kahu, a ao mai no hoi na kaula ma Baala, a hahai no hoi lakou mamuli o na mea kokua ole.
8Các thầy tế lễ không còn nói: Nào Đức Giê-hô-va ở đâu? Những người giảng luật pháp chẳng biết ta nữa. Những kẻ chăn giữ đã bội nghịch cùng ta. Các tiên tri đã nhân danh Ba-anh mà nói tiên tri, đi theo những sự không ích gì cả.
9Nolaila, e paio aku au ia oukou, wahi a Iehova, a e paio aku no hoi au i na keiki a ka oukou keiki.
9Đức Giê-hô-va phán: Vì cớ đó ta sẽ còn tranh cạnh cùng các ngươi, cho đến con cháu của con cháu các ngươi nữa.
10E hele ae hoi ma na aina o Kitima, a e nana; a e hoouna aku hoi i Kedara, a e noonoo pono, a ike, ina paha he mea like me ia.
10Hãy qua các cù lao Kít-tim mà xem! Hãy khiến người đến Kê-đa, và xét kỹ; xem thử có việc như vậy chăng.
11Ua hoololi ae nei anei he lahuikanaka i na'kua, i na mea akua ole? Aka, ua hoololi ae nei no ko'u poe kanaka i ko lakou nani i mea kokua ole.
11Có nước nào thay đổi thần của mình, mặc dầu ấy chẳng phải là thần không? Nhưng dân ta đã đổi vinh hiển mình lấy vật vô ích!
12E kahaha mai, e na lani i keia, a e weliweli loa hoi, e lilo oukou i neoneo loa hoi, wahi a Iehova.
12Hỡi các từng trời, hãy lấy làm lạ về sự đó; hãy kinh hãi gớm ghê, hãy rất tiêu điều, Đức Giê-hô-va phán.
13No ka mea, ua hana ko'u poe kanaka i na hewa elua; ua haalele mai lakou ia'u, i ke kumu wai ola, a ua eli lakou i na luawai, i na luawai nahaha, aole e paa ka wai maloko.
13Dân ta đã làm hai điều ác: chúng nó đã lìa bỏ ta, là nguồn nước sống, mà tự đào lấy hồ, thật, hồ nứt ra, không chứa nước được.
14He mea hooluhiia anei o Iseraela? he kauwa i hanau ohua ia? No ke aha la ia i lilo ai i ka haoia?
14Y-sơ-ra-ên là đầy tớ, hay là tôi mọi sanh trong nhà? Vậy sao nó đã bị phó cho sự cướp?
15Uwo mai la na liona hou ia ia, a hoonui aku hoi i ko lakou leo, a hooneoneo iho la i kona aina. Ua pau i ka wela kona mau kulanakauhale, aohe mea e noho ana.
15Các sư tử con gầm thét, rống lên inh ỏi nghịch cùng nó, làm cho đất nó thành ra hoang vu. Các thành nó bị đốt cháy, không có người ở nữa.
16Ua hoopau no hoi na keiki o Nopa, a me Tahapanesa i kou piko poo.
16Con cháu của Nốp và Tác-pha-nết cũng đã làm giập sọ ngươi.
17Aole anei nau iho i hana i keia maluna ou, i kou haalele ana ia Iehova, i kou Akua, ia ia i alakai aku ai ia oe ma ke ala?
17Mọi điều đó há chẳng phải xảy ra cho ngươi vì đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, khi Ngài dắt ngươi trên đường sao?
18Heaha hoi kau ma ka aoao o Aigupita, e inu ai i na wai o Sihora? Heaha hoi kau ma ka aoao o Asuria, e inu ai i na wai o ka muliwai?
18Hiện bây giờ, ngươi có việc gì mà đi đường qua Ê-díp-tô đặng uống nước Si-ho? Có việc gì mà đi trong đường A-si-ri đặng uống nước Sông cái?
19Na kou hewa iho no e paipai ia oe, a na kou mau lawehala e ao mai ia oe. E ike hoi oe, a e hoomaopopo, he mea ino, a he mea walania hoi kou haalele ana ia Iehova, i kou Akua, a me ka noho ole ana o ka makau ia'u iloko ou, wahi a Iehova, ka Haku o na kaua.
19Tội ác ngươi sẽ sửa phạt ngươi, sự bội nghịch ngươi sẽ trách ngươi, nên ngươi khá biết và thấy rằng lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và chẳng có lòng kính sợ ta, ấy là một sự xấu xa cay đắng, Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
20No ka mea, mai kahiko loa mai, ua uhaki au i kou auamo, a ua moku hoi ia'u kou mau kaula i paa ai; a olelo iho la oe, Aole au e noho i kauwa, oiai, ua kulou oe maluna o na puu kiekie a pau, a malalo hoi o na laau uliuli a pau, a ua moe kolohe hoi oe.
20Xưa kia ta đã bẻ ách ngươi, bứt xiềng ngươi, mà ngươi nói rằng: Tôi không vâng phục nữa; vì trên mỗi đồi cao, dưới mỗi cây xanh, ngươi đã cúi mình mà hành dâm.
21Aka, ua kanu no wau ia oe i kumu waina maikai, he hua pono wale no. Pehea la hoi oe i hoololiia'i i lala o ke kumu waina e ia'u?
21Ta đã trồng ngươi như cây nho tốt, giống đều rặc cả; mà cớ sao ngươi đã đốc ra nhánh xấu của gốc nho lạ cho ta?
22Ina e holoi oe ia oe i ka paakai holoi, a hoonui hoi i ka sopa, ua palahea no kou hewa imua o'u, wahi a Iehova, ka Haku.
22Dầu ngươi lấy hỏa tiêu và dùng nhiều diêm cường rửa mình, tội lỗi ngươi cũng còn ghi mãi trước mặt ta, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
23Pehea la e hiki ai ia oe ke olelo, Aole au i haumia, aole au i hahai mamuli o na Baala? E nana i kou ala ma ke awawa, e hoomaopopo hoi i ka mea au i hana'i. He kamelo mama no oe e holoholo ana i kona mau ala iho:
23Sao ngươi dám nói rằng: Ta không bị ô uế; ta chẳng từng đi theo thần tượng Ba-anh? Hãy xem đường ngươi trong nơi trũng; nhận biết điều ngươi đã làm, như lạc đà một gu lanh lẹ và buông tuồng,
24He hoki hihiu hoi, ua maa ma ka waonahele, e hau ana i ka makani no kona makemake iho. Ia ia e lapa kane ai, owai ka mea hiki ke hoohuli aku ia ia? o ka poe a pau e imi ana ia ia, aole lakou e hoomaloeloe ia lakou iho, no ka mea, a hiki i kona mahina, loaa no ia ia lakou.
24như lừa cái rừng, quen nơi đồng vắng, động tình dục mà hút gió. Trong cơn nóng nảy, ai hay xây trở nó được ư? Những kẻ tìm nó không cần mệt nhọc, đến trong tháng nó thì sẽ tìm được.
25E malama oe i kou wawae, o kamaa ole, a me kou puu, o maloo. Aka, olelo mai la oe, Make hewa. Oia, ua makemake au i na malihini, a e hahai no au ia lakou.
25Hãy giữ cho chân ngươi chớ để trần, cổ ngươi chớ khát! Nhưng ngươi nói rằng: Aáy là vô ích; không, vì ta thích kẻ lạ và sẽ theo chúng nó.
26E like me ka aihue i hilahila i kona wa e loaa'i, pela no e hilahila ai ko ka hale o ka Iseraela, o lakou, a me ko lakou alii, a me ko lakou poe luna, a me ko lakou poe kahuna, a me ko lakou poe kaula,
26Như kẻ trộm bị bắt, xấu hổ thể nào, thì nhà Y-sơ-ra-ên, nào vua, nào quan trưởng, nào thầy tế lễ, nào kẻ tiên tri, cũng sẽ xấu hổ thể ấy.
27E olelo ana hoi i ka laau, O oe ko'u makuakane; a i ka pohaku hoi, Nau no wau i hanau: a ua huli lakou i ke kua ia'u, aole i ka maka. Aka, i ka manawa o ko lakou poino, e olelo mai no lakou, E ala, e hoola mai oe ia makou.
27Chúng nói với gỗ rằng: Ngài là cha tôi; với đá rằng: Ngài đã sanh ra tôi. Vì chúng đã xây lưng lại cùng ta, mà không xây mặt lại với ta. Đoạn, đến ngày hoạn nạn, chúng sẽ nói rằng: Hãy chỗi dậy, cứu lấy chúng tôi!
28Auhea kou poe akua au i hana'i nou? E ala mai lakou, ina paha e hiki ia lakou ke hoola ia oe i kou popilikia. No ka mea, o ka heluna o kou mau kulanakauhale, oia no ka heluna o kou poe akua, e Iuda.
28Vậy chớ nào các thần mà các ngươi đã làm ra cho mình ở đâu? Nếu các thần ấy có thể cứu các ngươi trong kỳ hoạn nạn, thì hãy chỗi dậy mà cứu! Hỡi Giu-đa, vì số các thần ngươi cũng bằng các thành ngươi!
29No ke aha la oukou e paio mai ia'u? Ua hana hewa mai ia'u, oukou a pau, wahi a Iehova.
29Sao ngươi biện luận cùng ta? Các ngươi thảy đều đã phạm tội nghịch cùng ta, Đức Giê-hô-va phán vậy.
30Ua make hewa ko'u paipai ana i ka oukou poe keiki: aole i loaa ia lakou ka naauao. Na ka oukou pahikaua no i hoopau i ko oukou poe kaula, e like me ka liona luku.
30Ta đã đánh con cái các ngươi là vô ích: chúng nó chẳng chịu sự dạy dỗ. Gươm các ngươi đã nuốt các kẻ tiên tri mình, như sư tử phá hại.
31E ka hanauna kanaka, e nana oukou i ka olelo a Iehova. He waouahele anei au ne ka Iseraela? He aina pouli hai? No ke aha la i olelo ai ko'u poe kanaka, E aea lealea aku makou, aole makou hei hou aku iou la?
31Hỡi dòng dõi nầy! Hãy rõ lời Đức Giê-hô-va phán: Ta há là một đồng vắng hay là một đất tối tăm mờ mịt cho dân Y-sơ-ra-ên sao? Làm sao dân ta có nói rằng: chúng tôi đã buông tuồng, không đến cùng Ngài nữa?
32E hiki anei ke kaikamahine ke hoopoina i kona kahike ana, a me ka wahine mare hoi i kona kaei? Aka, ua hoopoina ko'u poe kanaka ia'u i na la pau ole i ka helu.
32Con gái đồng trinh há quên đồ trang sức mình, nàng dâu mới há quên áo đẹp của mình sao? Nhưng dân ta đã quên ta từ những ngày không tính ra được.
33No ke aha la oe e hoomaikai nei i kou aoao, e imi i ke aloha? Nolaila, ua ao aku oe i ka poe hewa i kou mau aoao.
33Sao ngươi cứ dọn đường mình để tìm tình ái! đến nỗi đã dạy cho những đàn bà xấu nết theo lối mình.
34Ma na kihi o kou aahu, ua loaa ke koko o na uhane o ka poe ilihune hewa ole; aole i loaa ma ka huli ana, aka, maluna no ia o keia mau mea a pau.
34Nơi vạt áo ngươi cũng đã thấy máu của kẻ nghèo nàn vô tội, chẳng phải vì cớ nó đào ngạch, bèn là vì cớ mọi điều đó.
35Aka, ke olelo nei oe. Aole o'u hewa, holaila, e huli aku ai kona huhu, mai o'u aku nei. Aia hoi, e paio aku no au ia oe, no ka mea, na olelo oe. Aole au i hewa.
35Ngươi lại còn nói rằng: Tôi là vô tội, thật cơn giận của Ngài lìa khỏi tôi! Nầy, vì ngươi nói rằng: Tôi không có tội, ừ, ta sẽ đoán xét ngươi.
36Heaha kou mea e hele nui aku ai, e hoololi hou i kou aoao? E hilahila no hoi oe ia Aigupita. e like me oe i hilahila ai ia Asuria.
36Sao ngươi chạy mau để đổi đường ngươi? Xưa kia ngươi xấu hổ về A-si-ri, nay cũng sẽ xấu hổ về Ê-díp-tô.
37Oia, e hele aku no oe, mai ona aku la, a aia hoi kou mau lima maluna e kou poo: no ka mea. ua hoowahawaha o Iehova i kou mea i hiliuai ai, aole hoi oe e pomaikai ia lakou.
37Ngươi sẽ chấp tay lên trên đầu, mà đi ra từ nơi đó. Vì Đức Giê-hô-va duồng bỏ những kẻ mà ngươi trông cậy, ngươi sẽ chẳng được thạnh vượng gì bởi chúng nó.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.